CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHIA SẺ TRI THỨC 1. Khái niệm về tri thức Có nhiều cách tiếp cận khác nhau dẫn đến các quan điểm đa dạng về tri thức. Một số nghiên cứu cho rằng tri thức là thông tin được tổ chức và phân tích, giúp việc áp dụng vào giải quyết vấn đề hoặc ra quyết định trở nên thuận tiện hơn. Một số tác giả khác cho rằng tri thức bao gồm các yếu tố như sự thật và niềm tin, quan điểm và khái niệm, phán đoán và kỳ vọng, cũng như các phương pháp và bí quyết (Wiig, 1993).
Bên cạnh đó, tri thức còn được định nghĩa là thông tin và dữ liệu được chuyển hóa để hỗ trợ các hành động, giải quyết vấn đề, và đưa ra quyết định. Theo Nonaka và Takuchi (1995), tri thức cũng có thể được hiểu là một quá trình năng động của con người nhằm chứng minh niềm tin cá nhân vào sự thật. Bản chất của tri thức là gì đã được các nhà khoa học thảo luận trong nhiều năm, nhưng đến nay việc tìm kiếm một định nghĩa chính thức vẫn đang tiếp tục. Khi nghiên cứu khái niệm về tri thức các nhà khoa học thấy rằng có sự liên quan giữa dữ liệu, thông tin với tri thức.
Có thể thấy, rằng dữ liệu và thông tin có liên quan đến thông tin nhưng không giống với thông tin. Beckman (1999) tổng hợp mối quan hệ này như sau: Dữ liệu = sự kiện, hình ảnh, hoặc âm thanh; Dữ liệu + diễn giải + ý nghĩa = thông tin = định dạng, lọc và tóm tắt dữ liệu; Thông tin + hành động + ứng dụng = tri thức = bản năng, ý tưởng, quy tắc và thủ tục hướng dẫn các hành động và quyết định. Định nghĩa dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ Định Diễn giải nghĩa Theo Jashapara (2005), trí tuệ là tri thức được tích lũy, giúp người tiếp nhận hiểu cách áp dụng các khái niệm vào tình huống hoặc vấn đề mới, đồng thời là khả năng tư duy phản biện hoặc hành động thực tế trong bất kỳ hoàn cảnh Trí tuệ nào. Trí tuệ dựa trên phán đoán đạo đức liên quan đến hệ thống niềm tin của mỗi cá nhân.
Theo Ghaziri và Awad (2005), trí tuệ có mức độ trừu tượng cao nhất và mang tầm nhìn rộng. 8 Định Diễn giải nghĩa Tri thức là sự tổ chức và xử lý dữ liệu hoặc thông tin, nhằm truyền đạt hiểu biết, kinh nghiệm, kiến thức tích lũy, và chuyên môn để giải quyết các vấn Tri đề hiện tại. Boddy (2005) cho rằng tri thức dựa trên thông tin được chiết thức xuất từ dữ liệu và là tài sản riêng của người sở hữu nó, thúc đẩy họ hành động theo cách cụ thể. Thông Theo Laudon và Laudon (2006), thông tin là dữ liệu đã được định hình để tin trở nên có ý nghĩa và hữu ích đối với con người.
Theo Bocij và cộng sự (2003), dữ liệu không có ý nghĩa và giá trị vì nó thiếu bối cảnh và chưa được diễn giải cụ thể. Ghaziri và Awad (2005), cũng như Pearlson và Saunders (2004) và Bocij và cộng sự (2003), cho rằng dữ liệu Dữ liệu là những sự kiện hoặc quan sát riêng lẻ, khách quan, chưa được tổ chức và xử lý, do đó không truyền đạt một ý nghĩa cụ thể nào. Theo Laudon (2006) và Boddy (2005), dữ liệu bao gồm các mô tả cơ bản được ghi lại về sự vật, sự kiện, hoạt động, và giao dịch. Nguồn: Rowley, 2007 Khái niệm về dữ liệu, thông tin, tri thức và trí tuệ được trình bày trong bảng 1.
Định Nghĩa dữ liệu, tri thức và trí tuệ 2 Thuật ngữ Định nghĩa Ví dụ Dữ liệu Dữ liệu là các ký hiệu đơn thuần. Nó Ký tự trong cuốn sách. không có ý nghĩa bởi vì nó tồn tại bên Bits trong bộ nhớ máy tính. ngoài tâm trí con người.
Chỉ dẫn trên đường phố. Thông tin Thông tin là dữ liệu đã được xử lý Đọc sách. Xem phim Tri thức Tri thức cấu thành niềm tin của một người về Mặt trời nằm ở trung tâm những gì mà đã được xã hội đánh giá là đúng. của hệ mặt trời.
Trí tuệ Trí tuệ tạo thành nhận thức của một con Chúng ta nên giảm lượng người về những gì được xã hội đánh giá là khí thải carbon. đáng mong muốn. Nguồn: Baskarada và Koronios, 2013 9 Khái niệm về tri thức cũng được phát biểu rằng nó được tạo ra bởi con người, vì vậy tri thức mang tính cá nhân, tính chủ quan, liên quan đến quá trình, liên quan đến thẩm mỹ và được tạo ra thông qua thực hành (Nonaka và cộng sự, 2008). Tri thức được xem là quyền lực và đặc quyền của một cá nhân cho nên tri thức thuộc về cá nhân và họ có mong muốn giữ lại hơn là chia sẻ (Khairah và Singh, 2008).
Tổng quan các nghiên cứu trước cho thấy khái niệm tri thức được tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là liệt kê các loại tri thức, còn góc độ thứ hai dựa trên dữ liệu và thông tin. Trong nghiên cứu này, tác giả kết hợp cả hai cách tiếp cận với những mục đích riêng biệt. Phương pháp thứ nhất giúp tác giả xác định các loại tri thức được chia sẻ của LĐLN trong các DNKTT Việt Nam.
Phương pháp thứ hai hỗ trợ tác giả phân biệt rõ tri thức, dữ liệu và thông tin trong quá trình khảo sát và phỏng vấn đối tượng này trong quá trình nghiên cứu. Phân loại tri thức Tri thức được chia thành các loại khác nhau tuỳ theo cách tiếp cận: * Theo cách tiếp cận của QTTT, tri thức được phân làm hai loại là tri thức ẩn và tri thức hiện (Nonaka, 1994). Tri thức ẩn là tri thức không nhìn thấy được nên khó để hiểu, khó để đo và khó để truyền đạt, nó phụ thuộc vào ngữ cảnh, phụ thuộc vào cá nhân, khó mô tả và khó truyền đạt một cách chính thức (Nonaka, 1994). Tri thức ẩn chiếm đến 42% trong tổng số tri thức của doanh nghiệp (Hickins, 1999).
Tri thức ẩn thường không nhìn thấy nên khó truyền đạt, khó hiểu và cũng khó đo lường, khó khăn trong việc mã hoá nhưng có thể sử dụng việc hợp tác, kèm cặp, truyền nghề, kể chuyện hay quan sát trực tiếp để chia sẻ (Pretorius và Steyn, 2005). Ngược lại với tri thức ẩn, tri thức hiện lại dễ dàng được tìm thấy trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, quy trình, văn bản, báo cáo, quy tắc và nhiều nguồn khác của tổ chức. Tri thức hiện dễ dàng nhìn thấy nên dễ đo lường, lưu giữ, truyền đạt, tiếp nhận và học tập (Pretorius và Steyn, 2005). Tri thức hiện thường có tính hệ thống và dễ dàng truyền thông dưới dạng dữ liệu cứng hoặc thủ tục hoặc mã hóa.
Vì vậy, tri thức hiện thường được sử dụng lại trong các tổ chức cho các mục đích ra quyết định và sẽ vẫn lưu giữ tại tổ chức ngay cả khi những người sáng tạo ra tri thức đó rời khỏi tổ chức (Wei Choo, 2000). 10 Tri thức ẩn và hiện không tồn tài tách biệt mà nó tồn tại đồng thời để bổ trợ cho nhau (Carrillo và cộng sự, 2003). Tri thức của tổ chức được tạo ra thông qua sự trao đổi liên tục giữa hai loại tri thức này (Nonaka và Takeuchi, 1995).“Tuy nhiên, cả tri thức ẩn và hiện có thể dễ dàng bị mất nếu các tổ chức không quản lý tài nguyên tri thức một cách hiệu quả.” “* Theo hình thức sở hữu, tri thức được phân thành ba loại: tri thức của con người, tri thức xã hội và tri thức có cấu trúc: Tri thức của con người là những gì các cá nhân biết hoặc biết làm thế nào (De Long và Fahey, 2000). Tri thức xã hội - tri thức tồn tại trong các mối quan hệ giữa các cá nhân hoặc trong các nhóm (De Long và Fahey, 2000).” Tri thức có cấu trúc - tri thức tồn tại trong các hệ thống, quy trình, công cụ của tổ chức (De Long và Fahey, 2000).
* Theo chức năng, tri thức được phân thành bốn loại: tri thức chuyên môn, tri thức phối hợp, tri thức đối tượng và tri thức con người có thể biết Tri thức chuyên môn là tri thức cho phép nhân viên thực hiện công việc (Holdt Christensen, 2007) Tri thức phối hợp là tri thức được quy định trong các nguyên tắc, tiêu chuẩn và các thủ tục để thực hiện các nhiệm vụ (Holdt Christensen, 2007) Trí thức đối tượng - trí thức liên quan đến đối tượng cụ thể như máy móc hoặc khách hàng (Holdt Christensen, 2007) Như vậy, phân loại tri thức cũng có nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào góc độ, mục đích nghiên cứu. Trong nghiên của mình, NCS tiếp cận tri thức dưới góc độ QTTT, bao gồm hai loại là tri thức ẩn và tri thức hiện. Với các doanh nghiệp khai thác than Việt Nam, tri thức ẩn chính là kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng, sự nhạy bén trong xử lý các tình huống bất thường và kiến thức chuyên môn được lưu giữ trong não của người lao động, còn tri thức hiện là mô tả về quy trình, sổ tay, chính sách, hợp đồng, thông tin vỉa khoáng sản, bản vẽ thiết kế, các quy định kỹ thuật, quy định an toàn, báo cáo chi phí, kết quả phân tích rủi ro và các thông tin khác được thu thập và lưu trữ trên giấy hoặc định dạng điện tử. So sánh giữa tri thức ẩn và tri thức hiện Tiêu trí Tri thức ẩn Tri thức hiện Bản chất Cá nhân, bối cảnh cụ thể Có thể văn bản hóa Khó chính thức hóa, soạn Được chính thức hóa thông qua Hình thức thảo, ghi lại, mã hóa hoặc quá trình giải thích hoặc diễn thể hiện giải tri thức ẩn Sổ tay, báo cáo, bản vẽ, cơ sở Trong tâm trí của người Vị trí dữ liệu, thông tin điện tử, biểu lao động đồ, phim.
Chuyển đổi sang tri thức Chuyển đổi trở lại thành tri Quá trình chuyển hiện trong các quá trình xã thức ẩn qua sự hiểu biết cá đổi hội, bao gồm cả quá trình nhân, sự hấp thụ hoặc ghi nhớ ngoại hóa các câu chuyện Ảnh hưởng của Hoàn toàn được hỗ trợ bởi Không phụ thuộc nhiều vào công nghệ thông công nghệ thông tin và truyền công nghệ thông tin tin thông Có thể chuyển giao qua nhiều Cần một môi trường truyền Phương tiện truyền phương tiện truyền thông bao gồm thông phong phú, văn hóa đạt cả phương tiện truyền thông chia sẻ và sự tin tưởng thông thường Nguồn: Oyarce, 2012 1. Giá trị của tri thức “Tri thức có giá trị thương mại và quyền sở hữu tri thức đang được các cá nhân và tổ chức quan tâm.