CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐẾN CHIA SẺ TRI THỨC TRONG TỔ CHỨC 1. Những vấn đề lý luận chung về văn hóa tổ chức 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về văn hóa nên việc nghiên cứu và lựa chọn một cách tiếp cận văn hóa có ý nghĩa quan trọng cho việc tiếp cận những nội dung tiếp theo liên quan đến văn hóa tổ chức.
Khái niệm văn hóa được dùng theo nhiều nghĩa, nhưng có thể quy về hai cách hiểu chính: nghĩa hẹp và nghĩa rộng. + Hiểu theo nghĩa hẹp: Văn hóa là hệ tư tưởng, các hệ thống và các thể chế đi theo nó như văn hóa, nghệ thuật, khoa học, triết học, đạo đức học,…Theo nghĩa hẹp, văn hóa được giới hạn theo bề sâu hoặc bề rộng, theo không gian, thời gian hoặc theo chủ thể. Giới hạn theo bề sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị tinh hoa, mang tính chất tinh thần (nếp sống văn hóa, văn hóa nghệ thuật…). Giới hạn theo bề rộng văn hóa được dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hóa ẩm thực, văn hóa kinh doanh…) hoặc kiến thức (trình độ văn hóa, học văn hóa), ứng xử (nếp sống văn hóa).
Giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng miền (văn hóa Nam Bộ, văn hóa Phương Đông,…). Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị của từng dân tộc, từng nhóm xã hội,. Từ điển tiếng Việt, văn hóa được định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình lịch sử”. Phát triển cách tiếp cận văn hóa theo nghĩa rộng, GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với mỗi trường tự nhiên và xã hội của mình”.25] Định nghĩa này khẳng định văn hóa là những sáng tạo của con người, mang lại giá trị cho con người, trong đó bao gồm cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần.
Những giá trị văn hóa này lắng đọng và kết tinh từ đời sống thực tiễn và xã hội mà họ đang sống. Điều đó cũng có nghĩa, không phải tất cả những gì do con người tạo ra đều là văn hóa, mà chỉ có những cái đã kết tinh thành giá trị thì cái đó mới là văn hóa. Theo tác giả nghiên cứu này, văn hóa được định nghĩa như sau: Văn hóa được xem là tất cả các giá trị vật chất do con người sáng tạo ra nghĩa là văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được biểu hiện, được kết tinh trong các của cải vật chất do con người tạo ra như sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệu tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở hạ tầng như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục,…Văn hóa được xem là tất cả các giá trị tinh thần bao gồm các sản phẩm tinh thần mà các cá nhân hay công đồng sáng tạo ra trong lịch sử. Khái niệm văn hóa tổ chức Văn hoá tổ chức thường được hiểu là một tập hợp của những biểu hiện hình thức như khẩu hiệu, logo, cách chào hỏi, các sinh hoạt văn hoá trong tổ chức, các truyền thuyết, tín ngưỡng của tổ chức.
Văn hóa tổ chức biểu thị sự đồng thuận trong nhận thức của tất cả các thành viên tổ chức về hệ thống những giá trị chung và có tác dụng phân biệt giữa một tổ chức này với các tổ chức khác. Luan van 8 Theo Lund (2003); Abdulloh (2006) thì “Văn hóa tổ chức có thể được xem như là một hệ thống các giá trị, các niềm tin và các khuôn mẫu hành vi ứng xử mà hình thànhnên các đặc tính cốt lõi của các tổ chức và giúp định hình hành vi ứng xử của nhân viên”. Văn hóa tổ chức chính là các quy phạm và hệ thống các giá trị chung nhằm kiểm soát quá trình tương tác giữa các thành viên trong tổ chức và kiểm soát quá trình tương tác với người bên ngoài tổ chức đó. Văn hóa tổ chức còn là một hệ thống những niềm tin hay các giá trị chung đã được xây dựng trong một tổ chức nhằm vào việc hướng dẫn hành vi của toàn bộ những người tham gia trong tổ chức đó.
Một điểm chung nữa là đa số khái niệm về văn hóa tổ chức đã được nêu trên là toàn bộ những khái niệm đều tập trung vào những phương diện mang tính biểu đạt mà thông qua đó các giá trị sẳn có trong văn hóa tổ chức được chuyển đến tới những người lao động trong tổ chức. Mặc dù, các tổ chức có thể trực tiếp mô tả những giá trị, những hệ thống ý nghĩa này được trình bày qua những câu chuyện, những ví dụ, hay thậm chí cả những huyền thoại trong quá trình hình thành và hoạt động của tổ chức. Những câu chuyện là điển hình để phản ánh những tầm quan trọng của những giá trị trong văn hóa tổ chức của tổ chức đó. Theo Phạm Xuân Nam (2009): “Văn hóa tổ chức là một hệ thống ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên”.
Theo Dương Thị Liễu (2012): “Văn hóa tổ chức là toàn bộ giá trị tinh thần mang tính đặc trưng riêng biệt của tổ chức có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên tổ chức”. Như vậy văn hóa tổ chức chính là một hệ thống những giá trị, những niềm tin, những cách thức ứng xử được chia sẻ bởi chính các thành viên trong một tổ chức và chính nó hướng dẫn, định hướng hành vi của toàn bộ người lao động trong một tổ chức. Các yếu tố văn hóa tổ chức - Tin tưởng: Sự tin tưởng lẫn nhau giữa các đồng nghiệp là một thuộc tính rất cần thiết trong Văn hóa Tổ chức, nó được cho là có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chia sẻ tri thức. Niềm tin là sự mong đợi của cá nhân hay nhóm vào sự đáng tin cậy của lời hứa hoặc hành động từ các cá nhân hoặc các nhóm khác (Politis, 2003).
Đó là một khái niệm đa chiều biểu lộ niềm tin, tình cảm hay mong đợi về một đối tác, có được từ chuyên môn của đối tác, độ tin cậy và tính chủ ý hoặc từ sự trung thực và lòng tốt, thiện chí của đối tác (Cheng và cộng sự, 2008). - Sự tương tác: Là hiện tượng có những hoạt động giao tiếp qua lại giữa các thành viên trong tổ chức nhằm truyền tải thông tin cần thiết đảm bảo hoàn thành công việc và mục tiêu của tổ chức, được hỗ trợ rất nhiều bởi sự tồn tại và phát triển của các mạng xã hội như hiện nay. Sự tương tác tốt giữa các thành viên, nhóm và phòng ban trong tổ chức là yếu tố cơ bản để khuyến khích hành vi chia sẻ tri thức của tổ chức đó (Alawi và cộng sự, 2007) - Lãnh đạo: Là thuật ngữ chỉ quá trình ảnh hưởng đến những người khác để đạt được một số mục tiêu mong muốn (Jong và Hartog, 2007). Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức.
- Giao tiếp: Là sự truyền đạt điều muốn nói từ người này sang người khác để đối tượng có thể hiểu những thông điệp truyền đi. Giao tiếp đề cập đến sự tương tác của con người thông qua các cuộc trò chuyện, lời nói và việc sử dụng ngôn ngữ cơ thể trong khi giao tiếp. Tương tác giữa các nhân viên được thúc đẩy bởi sự tồn tại của mạng xã hội trong tổ chức (Al-Alawi và cộng sự, 2007). - Hệ thống khen thưởng: Phần thưởng có thể là sự khích lệ bằng tiền hay phần thưởng phi tiền tệ.
Bartol và Locke (2000) xác định một số khía cạnh quan trọng của hệ thống khen thưởng tổ chức có ích cho việc thúc đẩy các cá nhân thực hiện các mục tiêu. Luan van 10 - Quy trình: Là một hệ thống các hoạt động và các nhiệm vụ có liên quan và theo một trình tự nhất định từ đầu vào tới kết quả đầu ra, và có một khởi đầu khác biệt, có bước tiến rõ ràng ở cuối, và một tập hợp các số liệu hữu ích để đo lường hiệu suất (Pearlson, 2001). - Cấu trúc tổ chức: Bao gồm các yếu tố như không gian văn phòng, phân loại và ranh giới các phòng ban, phạm vi quyền lực, và định nghĩa về vai trò của nhân viên (Von Krogh, 1998). Cấu trúc tổ chức đề cập đến cách công ty được tổ chức, và cách mọi người thể hiện mối quan hệ với nhau.
Có hai loại cấu trúc tổ chức, chính thức và không chính thức. Cấu trúc tổ chức chính thức thường được hiển thị trên một sơ đồ tổ chức, và biểu thị mối quan hệ thứ bậc giữa các thành viên của công ty. Cấu trúc tổ chức không chính thức được tạo ra thông qua mạng lưới không chính thức. Hai khái niệm này không phải là độc lập, và các cấu trúc chính thức có thể ảnh hưởng rất nhiều đến mạng lưới không chính thức, cả tích cực và tiêu cực.
- Công nghệ thông tin, truyền thông (ICT): ICT được sử dụng như là một thuật ngữ chung cho tất cả các loại công nghệ cho phép người dùng tạo ra, lưu giữ, quản lý, truy cập và thao tác với thông tin; nhằm tạo sự tương tác với nhau, hỗ trợ cho hoạt động hàng ngày trong các tổ chức (Whitten và cộng sự, 2001) 1. Những vấn đề lý luận chung về chia sẻ tri thức 1. Khái niệm tri thức Sự tiến hóa của nhận thức luận khoa học đã hình thành một cấu trúc thứ bậc của việc tạo ra: từ dữ liệu đến thông tin đến tri thức. Dữ liệu là tập hợp các sự kiện, sự việc khách quan, rời rạc được trình bày mà không có sự phán quyết hoặc không gắn với bối cảnh.
Dữ liệu trở thành thông tin khi nó được phân loại, phân tích, tổng hợp và đặt vào một bối cảnh, và trở nên có thể nhận thức được đối với người nhận.