Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Nội dung chương đầu tiên của luận văn cung cấp cho người đọc các thông tin tổng quan về đề tài nghiên cứu như lý do tác giả lựa cho đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Tác giả cũng trình bày khái quát về phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Nội dung chương hai trình bày các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tại nghiên cứu. Trong đó, phần đầu tiên của chương diễn giải khái niệm về yếu tố chính mà đề tài quan tâm nghiên cứu là hoạt động chia sẻ tri thức.
Phần hai lược khảo các yếu tố chính tác động đến hành vi tri thức như cơ chế khen thưởng, văn hóa tổ chức, niềm tin vào tri thức bản thân, hoạt động đội và hệ thống công nghệ thông tin. Từ cơ sở này, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu thích hợp. Tổng quan các nghiên cứu trước cũng được trình bày ở phần cuối của chương. Chương 3: Quy trình và phương pháp nghiên cứu Chương 3 của luận văn mô tả phương pháp nghiên cứu cũng như quy trình thực hiện nghiên cứu.
Một cách khái quát, quy trình nghiên cứu dựa trên sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Mục tiêu của các phương pháp định nhằm tính hình thành thang đo chính thức trong khi các phương pháp định lượng nhằm đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi chia sẻ tri thức. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Dựa vào quy trình nghiên cứu được trình bày ở chương trước, tác giả thực hiện khảo sát, tổng hợp và phân tích dữ liệu. Theo đó, nội dung chương bốn trình 9 bày kết quả kiểm định theo từng giai đoạn nghiên cứu.
Kết quả kiểm định được phân tích và thảo luận chi tiết trong nội dung của chương. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Từ lược khảo lý thuyết và kết quả nghiên cứu được thảo luận từ các chương trước, tác giả hình thành các đúc kết chính về đề tài nghiên cứu. Theo đó, luận văn chỉ ra năm yếu tố (cơ chế khen thưởng, văn hóa tổ chức, niềm tin vào tri thức bản thân, hoạt động đội và hệ thống công nghệ thông tin) có tác động có ý nghĩa đến hoạt động chia sẻ tri thức tri thức của các giảng viên các trường đại học công lập tại TP.HCM song mức độ tác động có nhiều khác biệt. Từ cơ sở này, tác giả đề xuất các hàm ý chinh sách có liên quan.
10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Về khái quát, chương thứ hai của luận văn trình bày cơ sở lý thuyết về các nhân tố tác đông đến hành vi chia sẻ tri thức trong các tổ chức. Đây sẽ là nền tảng để luận văn thực hiện các kiểm định thực nghiệm, khám phá tác động của các nhân tố đến hoạt động chia sẻ tri thức của các giảng viên các trường đại học công lập tại TP. Lược khảo lý thuyết cho thấy, hành vi chia sẻ tri thức được luận giải dựa trên nhiều nền tảng lý thuyết khác nhau như lý thuyết trao đổi xã hội, lý thuyết nhận thức xã hội hay lý thuyết phát triển nhận thức. Đây là cơ sở để tác giả xây dựng các giả thuyết về các yếu tố tác động đến hành vi chia sẻ tri thức.
Cụ thể, qua quá trình lược khảo các nghiên cứu trước, tác giả đúc kết được năm yếu tố tác động đến hành vi chia sẻ tri thức. Trong đó, tác giả chú trọng phân tích vai trò của niềm tin vào tri thức bản thân và hoạt động đội nhóm đối với hành vi chia sẻ tri thức trong tổ chức. Theo đó, nội dung chương được cấu trúc như sau: phần thứ nhất trình bày các khái niệm chính; phần thứ hai trình bày khung lý thuyết về các nhân tố tác động đến hành vi chia sẻ tri thức và hình thành mô hình nghiên cứu và phần cuối cùng là lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan. Các khái niệm chính 2.1 Tri thức Các nghiên cứu trước thường tranh luận về hai thuật ngữ “tri thức” và “thông tin”.
Một số nghiên cứu đồng nhất hai thuật ngữ (Kogut & Zander, 1992; Stewart, 1997) song nhiều nghiên cứu lại chỉ ra sự khác biệt (Blackler, 1995; Davenport & Prusak, 1998; Nonaka & Takeuchi, 1995; Pemberton, 1998). Theo Nonaka & Takeuchi (1995), “thông tin” được hiểu là một tập hợp các thông điệp, trong khi đó, tri thức được tạo ra khi dòng chảy các thông điệp kết hợp với niềm tin và sự cam kết của chủ nhân những thông điệp đó. Theo đó, nghiên cứu chỉ ra ba đặc điểm để phân biệt giữa thuật ngữ “tri thức” và “thông tin”: (i) tri thức thể 11 hiện một quan điểm cụ thể, dự định hoặc lập trường của một cá nhân, vì vậy, tri thức thuộc về niềm tin và cam kết; (ii) tri thức thường dẫn đến kết quả, nghĩa là tri thức liên quan đến hành động; (iii) tri thức gắn với bối cảnh và mối quan hệ cụ thể. Davenport & Prusak (1998) định nghĩa “tri thức là dòng chảy thông điệp bao gồm những thông tin, kiến thức chuyên môn, những kinh nghiệm đúc kết được theo thời gian và qua giáo dục, tạo ra một khuôn khổ cho việc đánh giá và kết hợp những thông tin mới cũng như những kinh nghiệm tiếp theo.
Tri thức khởi nguồn và được áp dụng trong tâm trí của người sở hữu tri thức”. Tương tự, Nonaka & Takeuchi (1995) định nghĩa tri thức ở phạm vi rộng hơn: “tri thức là quá trình xuyên suốt của nhân loại trong việc biện minh cho niềm tin cá nhân đối với chân lý”. Theo đó, đồng quan điểm với các nghiên cứu trên, tác giả ủng hộ quan điểm có sự khác biệt giữa “tri thức” và “thông tin”. Tri thức là những thông tin, kinh nghiệm, kiến thức chuyên môn có được thông qua trải nghiệm hay thông qua giáo dục.
Tri thức là nguồn tài nguyên quan trọng của tổ chức. Nó tạo ra các lợi thế cạnh tranh cho sự phát triển bền vững của các công ty, trong một nền kinh tế thị trường năng động và nhiều đối thủ cạnh tranh (Davenpork & Prusak, 1998; Foss & Pederson, 2002; Grant, 1996). Các công ty không chỉ đơn thuần là thuê được nhân viên phù hợp hoặc tiến hành các khóa đào tạo nhân viên là có thể duy trì được các lợi thế cạnh tranh của mình (Brown & Duguid, 1991). Vì vậy, điều quan trọng là các công ty cần phải hiểu cách luân chuyển tri thức cũng như những hiểu biết chuyên môn giữa các nhân viên trong nội bộ công ty của mình (Davenpork & Prusak, 1998).
Nghiên cứu của Nahapiet & Ghoshal (1998) chỉ ra, tri thức trong các công ty phần lớn được tạo ra từ việc trao đổi tri thức hiện có giữa các nhân viên trong tổ chức.2 Chia sẻ tri thức Tri thức có thể chia sẻ được (Bartol & Srivastava, 2002; Polanyi, 1966; Sharratt & Usoro, 2003; Wang & Noe, 2010). Một cách khái quát, chia sẻ là quá 12 trình gồm một bên cho đi và một bên nhận được, theo đó, nguồn tài nguyên được chuyển giao từ bên cho sang bên nhận. Tuy nhiên, chia sẻ tri thức thì nguồn tài nguyên không bị mất đi (Sharratt & Usoro, 2003). Theo đó, chia sẻ tri thức không có nghĩa là người chia sẻ từ bỏ quyền sở hữu tri thức, mà thay vào đó, quá trình này giúp kết nối, sở hữu chung tri thức giữa người chia sẻ và người nhận (Ipe, 2003).
Vì vậy, chia sẻ tri thức có tính chất trao đổi qua lại. Quá trình này khác biệt với chia sẻ thông tin, thường là đơn hướng (Catherine Elizabeth Connelly, 2000). Như vậy, chia sẻ tri thức là thành phần chính yếu của quản lý tri thức, liên quan đến quá trình các cá nhân trong một tổ chức chia sẻ với các cá nhân khác những tri thức (Bock & cộng sự, 2005). Cụ thể hơn, Cummings (2004) định nghĩa, chia sẻ tri thức là việc thông tin được trao đổi và thảo luận để mọi người trong tổ chức cùng làm việc và giải quyết những vấn đề cụ thể, phát triển ý tưởng mới, đề xuất các cải tiến hay thực hiện các chính sách, quy trình.
Chia sẻ tri thức là một quá trình làm cho tri thức được tái sử dụng bởi giữa các cá nhân thông qua trao đổi tri thức (Lee & Al-Hawamdeh, 2002). Theo đó, chia sẻ tri thức đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của tổ chức. Quá trình này tạo ra sự liên kết giữa các cá nhân và gắn kết tổ chức thông qua dịch chuyển tri thức từ cấp độ mỗi cá nhân thành tri thức chung ở cấp độ tổ chức. Qua đó, tri thức tạo ra giá trị kinh tế và hình thành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức (Hendriks, 1999).
Cohen & Levinthal (2000) lập luận rằng sự tương tác giữa các cá nhân có kiến thức đa dạng và chuyên sâu sẽ giúp đẩy mạnh quá trình đổi mới của tổ chức, vượt xa khả năng của từng cá nhân có thể tạo ra. Tương tự, Boland & Tenkasi (1995) đồng tình với ý kiến này và cho rằng lợi thế cạnh tranh và sự thành công của sản phẩm trong các tổ chức bắt nguồn từ sự phối hợp hiệp lực của các cá nhân có tri thức đối với kết quả chung. Von Krough, Ichijo & Nonaka (2000) còn nhận định rằng chia sẻ tri thức giúp đẩy nhanh quá trình tạo ra các tri thức mới và tận dụng chúng để cải thiện hiệu suất của doanh nghiệp. 13 Như vậy, chia sẻ tri thức là một quá trình mà các cá nhân trong tổ chức chia sẻ tri thức, đóng góp vào việc ứng dụng tri thức, đổi mới, và cuối cùng là lợi thế cạnh tranh của công ty (Jackson & cộng sự, 2006; Wang & Noe, 2010).
Thực tế cho thấy, các tổ chức ngày càng chú trọng xây dựng cơ chế chia sẻ tri thức, xem đó như một lợi thế cạnh tranh hiệu quả. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, khoảng cách về thời gian và không gian dần được thu hẹp, tốc độ truyền đạt thông tin ngày càng cao thì vai trò của chia sẻ tri thức càng trở nên quan trọng. Vì vậy, việc khám phá và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến hoạt động chia sẻ tri thức rất cần được quan tâm, tập trung nghiên cứu. Lược khảo các nghiên cứu có liên quan Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, cơ chế chia sẻ tri thức hiệu quả ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các tổ chức.