Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC HIỂU HỌC VIÊN TRONG DẠY HỌC CỦA GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC QUÂN SỰ 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực hiểu học sinh trong dạy học của người giáo viên 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Lịch sử phát triển của tâm lý học cho thấy, những thành tựu của tâm lý học được ứng dụng trước tiên và nhanh nhất vào lĩnh vực sư phạm. Các lí thuyết của các nhà tâm lý học như: L.
về hoạt động dạy học, giáo dục tạo ra cơ sở lý luận, nền tảng cho tâm lý học sư phạm đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau của hoạt động sư phạm, trong đó có nghiên cứu về năng lực hiểu học sinh. Tiêu biểu có các tác giả: A. Xukhômlinxki; Kierkegaard; Peter Filene Richard M. Felder; Joni - Spurlin; John Biggs; Catherine Tang; John Hayes và Christopher W.
Allinson… theo các hướng sau: * Nghiên cứu năng lực hiểu học sinh với tư cách là một thành tố cấu thành năng lực sư phạm và năng lực dạy học của người giáo viên. Với hướng nghiên cứu này tiêu biểu có A. Gônôbôlin; Ernesto Cuadra; Juan Manued Moreno… - Tác giả A. Scherbakôv đã chỉ ra cấu trúc của năng lực sư phạm gồm 2 tập hợp: 1- Tập hợp gồm những năng lực giữ vai trò chủ đạo như: năng lực thụ cảm; tính quan sát của người thầy giáo; tính thiện cảm, có nghĩa là hiểu được trạng thái tâm lý của học sinh.
2 - Tập hợp gồm những năng lực giữ vai trò hỗ trợ. Ông coi năng lực hiểu học sinh là loại năng lực quan trọng, giữ vai trò chủ đạo trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên [67]. Cruchetxki đưa ra cấu trúc năng lực sư phạm bao gồm: những năng lực dạy học; năng lực hiểu biết rộng; năng lực nhận biết học sinh; năng lực ngôn ngữ; năng lực gây uy tín… Mặc dù không đưa ra khái niệm, không phân tích làm rõ nội hàm, nội dung biểu hiện, nhưng V. Cruchetxki đã khẳng định năng lực nhận biết học sinh (hiểu học sinh) là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất trong cấu trúc năng lực sư phạm của người giáo viên [16].
Lêvitôv nghiên cứu và chỉ ra cấu trúc năng lực dạy học bao gồm: năng lực truyền đạt tri thức; năng lực hiểu học sinh; có nếp suy nghĩ độc lập và sáng tạo; sự nhanh trí hay định hướng nhanh chóng và chính xác và năng lực tổ chức. Mặc dù vậy, tác giả mới nêu tên mà chưa đưa ra khái niệm, chưa phân tích rõ đặc điểm, vai trò của loại năng lực này [30]. Gônôbôlin chỉ ra cấu trúc năng lực dạy học bao gồm: năng lực hiểu học sinh; năng lực truyền đạt tài liệu; năng lực thu hút học sinh; năng lực thuyết phục mọi người; năng lực tổ chức; năng lực khéo léo sư phạm; năng lực sáng tạo trong dạy học và giáo dục; năng lực tạo khả năng nắm vững và tái hiện kịp thời năng lực giảng dạy. Trong đó, tác giả cho rằng năng lực hiểu học sinh là thành tố đầu tiên, loại năng lực thành phần quan trọng nhất của năng lực dạy học của người giáo viên [23].
- Các tác giả Ernesto Cuadra, Juan Manued Moreno và cộng sự quan niệm: “Một năng lực hoặc kỹ năng dạy học là khả năng huy động nhiều nguồn lực nhận thức để xử lý một loại tình huống dạy học đặc biệt. Thay vì liên quan đến việc dạy một nội dung hoặc kiến thức đặc biệt, các kỹ năng và năng lực dạy học gắn kết và tích hợp các nguồn lực nhận thức phù hợp với tình huống xảy ra. Các kỹ năng và năng lực này được tạo dựng thông qua đào tạo và thực tế hàng ngày trên lớp học. Theo đó, đề xuất ba nhóm với 12 năng lực cơ bản, trong đó có ba loại năng lực sau: 1- Năng lực thiết kế các tình huống dạy - học phù hợp với học sinh và nội dung môn học nhằm phát triển ở các em những năng lực theo yêu cầu của chương trình giáo dục; 2- Năng lực triển khai các tình huống dạy - học phù hợp với học sinh và nội dung môn học nhằm phát triển ở các em những năng lực theo yêu cầu của chương trình giáo dục; 3- Năng lực đánh giá sự tiến bộ của học sinh trong việc học nội dung môn học [48, 158-159].
Theo hướng nghiên cứu này, các tác giả đều thống nhất khẳng định, năng lực hiểu học sinh (hay học viên) là thành phần tất yếu của năng lực dạy học của người giáo viên - đây là một loại năng lực đặc thù, chuyên biệt có vai trò quan trọng trong dạy học. Qua đó, đề xuất được các nhóm năng lực cơ bản để dạy học phù hợp với học sinh. Tuy nhiên, các tác giả chưa bàn gì về khái niệm, đặc điểm, bản chất, biểu hiện cũng như con đường và biện pháp hình thành, phát triển loại năng lực chuyên biệt này ra sao; chưa đề cập đến tính đa dạng, đặc thù của người giáo viên, giảng viên đại học và các đối tượng học sinh, học viên cụ thể. 10 * Nghiên cứu về đặc điểm tâm lý các nhóm học sinh - đặc trưng phong cách học tập của học sinh, sinh viên và yêu cầu năng lực nắm bắt, hiểu đặc điểm tâm lý học sinh, sinh viên trong dạy học của người giáo viên.
Theo hướng nghiên cứu này chủ yếu là các nhà tâm lý học phương Tây. Các nghiên cứu và cách tiếp cận về năng lực hiểu học sinh trong dạy học khá đa dạng, phong phú như: nghiên cứu về năng lực nhận biết, hiểu đặc điểm các nhóm học sinh, phân nhóm học sinh của giáo viên; nghiên cứu việc nhận biết, hiểu đặc điểm, cách học của học viên người lớn; trên cơ sở đó đề xuất cách dạy có hiệu quả đối với học viên người lớn. Tiêu biểu có các nghiên cứu của một số tác giả: Kierkegaard; Peter Filene; Richard M. Felder; Joni - Spurlin.
- Tác giả Kierkegaard quan niệm: Việc giảng dạy bắt đầu khi bạn, người giáo viên, học được từ người học. Hãy đặt mình vào vị trí của người học để hiểu điều người học mong muốn và cách mà anh ta hiểu vấn đề như thế nào [74]. Mặc dù chưa đưa ra được khái niệm và chưa đề cập một cách đầy đủ về năng lực hiểu học sinh, song tác giả đã chỉ ra rằng, muốn dạy học có kết quả yêu cầu người giáo viên trước tiên cần phải hiểu rõ người học cả những ưu điểm, hạn chế, năng lực, thuận lợi, khó khăn… hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, mong muốn, phương pháp, cách thức và kết quả lĩnh hội, tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm của người học như thế nào. - Tác giả Peter Filene, khi nghiên cứu về việc hiểu sinh viên trong mối quan hệ sư phạm nhất định đã yêu cầu phải hiểu sinh viên trên những nội dung cụ thể như: 1- Ý thức, thái độ, thói quen sinh hoạt học tập, năng lực, kết quả học tập thông qua điểm tổng kết.
của sinh viên; 2 - Cần nắm sinh viên đã học gì, có gì thông qua cho họ làm bài kiểm tra ngắn. Tác giả cho rằng, sinh viên luôn có những mô hình nhận thức có sẵn để tiếp nhận và hiểu cái mới; giảng viên phải hiểu để dạy cho phù hợp: “Nói cách khác, bạn cần phải lắng nghe trước khi dạy một ai một điều gì. Nếu không bạn sẽ bị lúng túng bởi phản ứng hay sự bối rối của sinh viên và trách mắng sinh viên”; 3 - Việc học của sinh viên phụ thuộc vào “Phong cách học” của họ vì mỗi cá nhân có phong cách học riêng; 4 - Đặc điểm nhận thức của sinh viên trải qua bốn giai đoạn theo cấp độ phát triển tăng dần (nhị nguyên luận - đúng, sai), tương đối luận, đa dạng và tận tụy (vận dụng kiến thức vào thực tiễn); đặc điểm về tầng lớp, sắc tộc, tôn giáo của sinh viên … [22, 39-58]. Thực chất với quan niệm trên, tác giả chỉ ra những đặc điểm, nội dung tâm lý đa dạng của các nhóm người học và 11 đề ra yêu cầu về năng lực hiểu biết, nắm chắc các đặc điểm, nội dung tâm lý ấy trong dạy học của người giáo viên, giảng viên.
Felder nghiên cứu về “Thấu hiểu những khác biệt của sinh viên” đã chỉ ra ba lĩnh vực về sự khác biệt của việc dạy và học là: (1) khác biệt trong cách học của sinh viên (những đặc điểm đặc trưng của tiếp nhận và xử lý thông tin); (2) khác biệt về các phương pháp tiếp cận (bề mặt, chuyên sâu và chiến lược); (3) khác biệt về mức độ phát triển trí tuệ (thái độ về bản chất của kiến thức và làm thế nào để đạt được, đánh giá được). Từ đó, tác giả đưa ra ba cách tiếp cận và định hướng học tập tương ứng đó là: Thứ nhất, với những sinh viên theo định hướng sao chép, họ sẽ lựa chọn phương pháp tiếp cận bề mặt trong học tập, dựa trên kiểu học thuộc lòng, học một cách máy móc. Thứ hai, với những sinh viên theo định hướng tìm hiểu bản chất có xu hướng lựa chọn cách tiếp cận chuyên sâu, họ dựa trên những câu hỏi, cách luận đề và khai phá các giới hạn ứng dụng của bài học mới. Thứ ba, với những sinh viên theo định hướng nhắm đến mục tiêu, họ sử dụng cách tiếp cận chiến lược, họ quan tâm đạt được điểm số cao.
Đồng thời, giới thiệu bốn mô hình phong cách học tập tương ứng với các đặc trưng tâm lý của từng kiểu (nhóm) người học. Qua đó, đưa ra những định hướng, yêu cầu về phương pháp dạy học của người thầy cho phù hợp với đối tượng cụ thể [79]. Felder và Joni - Spurlin khi nghiên cứu về “Các ứng dụng, độ tin cậy và giá trị của chỉ số phong cách học tập”, trên cơ sở nghiên cứu đã chỉ ra những đặc trưng các phong cách học tập của học sinh, độ tin cậy của từng phương pháp học tập; qua đó, tác giả đã đưa ra khuyến cáo cần tránh lạm dụng các phương pháp giảng dạy, mà phải chọn lựa phương pháp tuỳ thuộc vào đối tượng người học cụ thể. Việc xác lập nội dung dạy học, sử dụng phương pháp giảng dạy của giáo viên phải dựa trên cơ sở nắm chắc và phù hợp những đặc điểm tâm lý của đối tượng học sinh, sinh viên [80].
Cách tiếp cận và nghiên cứu của các tác giả trên đây là khá cụ thể, rõ về đặc điểm, đặc trưng tâm lý, phong cách học tập của các nhóm học sinh, học viên với tư cách đối tượng dạy học. Đưa ra chỉ dẫn về các cách thức dạy học tương ứng và phù hợp với từng đối tượng, nhóm đối tượng cụ thể.