Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học (chuyên hướng Tâm lý học sư phạm quân sự) của tác giả Đỗ Thị Minh Nguyệt mang tiêu đề: "Tự đánh giá năng lực của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam". Trọng tâm nghiên cứu của đề tài đi sâu vào khía cạnh tự đánh giá năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo sĩ quan quân đội.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hoạt động giáo dục - đào tạo, tự đánh giá năng lực (self-efficacy) là yếu tố tâm lý giữ vai trò quan trọng, chi phối nhận thức, mức độ nỗ lực, tính kiên trì và khả năng vượt khó của người dạy khi thực hiện nhiệm vụ sư phạm. Mặc dù trên thế giới vấn đề này đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu trong khoảng hai mươi năm trở lại đây, song tại Việt Nam, các công trình đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về tự đánh giá năng lực giảng dạy còn tương đối khiêm tốn. Đặc biệt, việc nghiên cứu tự đánh giá năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên trong môi trường đặc thù như các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam vẫn còn là một khoảng trống khoa học.

Thực tiễn đào tạo quân sự cho thấy một bộ phận giảng viên chưa có sự tin tưởng cao vào năng lực của bản thân, tự đánh giá thấp khả năng hoàn thành nhiệm vụ, nảy sinh tâm lý e ngại nhiệm vụ mới hoặc nhiệm vụ khó, chậm đổi mới phương pháp và ứng dụng công nghệ thông tin. Thực trạng này đã được chỉ rõ trong Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2011 - 2020, đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu toàn diện nhằm làm rõ cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp tâm lý - xã hội phù hợp.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giảng dạy.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 5 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
    1. Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án.
    2. Xây dựng những vấn đề lý luận cơ bản về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
    3. Khảo sát, đánh giá thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy và thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
    4. Phân tích chân dung tâm lý về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
    5. Đề xuất biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Giảng viên đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy tại các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các mặt biểu hiện của tự đánh giá năng lực và các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tự đánh giá năng lực ở phạm vi nhận thức, sự tin tưởng về hiệu quả có thể đạt được của giảng viên khi thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy. Tập trung vào 3 mặt biểu hiện chính: (1) Tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy; (2) Tự đánh giá năng lực thu hút học viên; (3) Tự đánh giá năng lực quản lý lớp học; cùng hệ thống các yếu tố ảnh hưởng.
    • Phạm vi khách thể: Giảng viên các trường sĩ quan đang trực tiếp làm công tác giảng dạy.
    • Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu tại 4 cơ sở đào tạo đại diện cho các vùng miền và chuyên ngành đào tạo trong quân đội: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh và Trường Sĩ quan Thông tin.
    • Phạm vi thời gian: Số liệu khảo sát, điều tra thực nghiệm được thu thập, xử lý và tổng hợp từ năm 2018 đến năm 2021.

Hệ thống giả thuyết khoa học

  1. Tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đang ở mức độ trung bình và không có sự đồng đều giữa các mặt biểu hiện.
  2. Giảng viên các trường sĩ quan có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm hơn và có trình độ học vấn cao hơn thì có tự đánh giá năng lực giảng dạy cao hơn.
  3. Có sự khác biệt về mức độ tự đánh giá năng lực giảng dạy giữa nhóm giảng viên nam và giảng viên nữ, cũng như giữa các trường sĩ quan với nhau.
  4. Tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên chịu sự tác động của các yếu tố: Trải nghiệm trong hoạt động giảng dạy; Sự học hỏi kinh nghiệm; Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên; Trạng thái cơ thể, cảm xúc; Sự lạc quan; Cảm nhận hạnh phúc trong công việc; Sự hài lòng trong công việc.
  5. Việc nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên cần thực hiện đồng bộ các biện pháp: tăng cường trải nghiệm thành công, xây dựng môi trường sư phạm quân sự lành mạnh và phát huy vai trò của lãnh đạo - chỉ huy cũng như đồng nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 3 hướng chính:

1. Hướng nghiên cứu về biểu hiện của năng lực giảng dạy và tự đánh giá năng lực giảng dạy

  • Năng lực giảng dạy: Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001) phân chia năng lực giảng dạy thành 3 thành phần: thực hiện mục đích yêu cầu giảng dạy, quản lý lớp học và thu hút sinh viên. Tại Việt Nam, nhóm tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2008) chia thành các năng lực hiểu trình độ học sinh, tri thức, chế biến tài liệu, truyền đạt và ngôn ngữ; nghiên cứu của Trường Sĩ quan Chính trị (2016) tập trung vào đặc điểm tâm lý, mức độ nắm tri thức và kỹ năng sư phạm; Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014) và Nguyễn Thị Thanh Thảo, Nguyễn An Phú (2020) nhấn mạnh đến kiến thức chuyên môn, xây dựng mục tiêu, kiểm tra đánh giá và ứng dụng công nghệ.
  • Biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy: Albert Bandura (1997) xây dựng 7 khía cạnh tự đánh giá năng lực cho giáo viên phổ thông; Schwarzer, Schmitz và Daytner (1999) đề xuất 4 mặt biểu hiện (hoàn thành công việc, phát triển kỹ năng, tương tác và đối phó căng thẳng). Khung lý thuyết của Tschannen-Moran và Woolfolk Hoy (2001) với 3 mặt biểu hiện (quản lý lớp học, thu hút người học, thực hiện mục đích yêu cầu) được luận án lựa chọn kế thừa vì tính tương thích cao với nhiệm vụ lên lớp của giảng viên đại học, đồng thuận với các công trình của Heneman và cộng sự (2006), Klassen (2009), Morris (2010), Franziska (2016) và Muhammet Emin và cộng sự (2017).

2. Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng và thang đo

  • Trải nghiệm bản thân: Bandura (2005), Morris và cộng sự (2011), Poulou (2007), Garvis và Pendergast (2012), Milner (2002), Palmer (2006a), Cheung (2008) đều xác nhận trải nghiệm làm chủ thành công là nguồn tác động cốt lõi. Tuy nhiên, Phan Thị Tuyết Nga và cộng sự (2015) khi nghiên cứu tại Việt Nam cho rằng yếu tố văn hóa cộng đồng làng xã khiến trải nghiệm cá nhân có thể xếp sau sự đánh giá, phản hồi của người xung quanh.
  • Học hỏi kinh nghiệm: Weaver (2008), Mousavi (2014) và W và cộng sự (1991) chỉ ra học hỏi qua quan sát đồng nghiệp có vai trò lớn, đặc biệt khi thực hiện các nhiệm vụ mới hoặc phức tạp; trong khi Anderson và Betz (2001), Hoy và Burke-Spero (2005) xem đây là yếu tố mang tính bổ trợ.
  • Đánh giá, phản hồi từ bên ngoài: Tschannen-Moran và cộng sự (1998), Hampton (1998), Hattie và Timperley (2007), Morris (2010) và Phan Thị Tuyết Nga, Terry Locke (2015) phân tích tác động của sự phản hồi từ lãnh đạo, đồng nghiệp và sinh viên đến nhận thức năng lực của giảng viên.
  • Trạng thái cơ thể, cảm xúc, sự lạc quan và hài lòng: Lent và cộng sự (1991), Sutton (2004), Singh và Rajalingam (2012), Judge và cộng sự (2001), Klassen (2009), Morris (2011), Britney và Pajares (2006), Marwa Alrajhi (2017) khảo sát mối liên hệ giữa cảm xúc, sự thỏa mãn nghề nghiệp và giới tính với mức độ tự đánh giá năng lực.
  • Về thang đo: Thang đo chung của Schwarzer và Jerusalem (1995), Chen, Gully và Eden (2001); thang đo giáo viên của Bandura (1997), Heppner (1994, 1 item cho mỗi yếu tố), Poulou (2007, 30 mục gộp nhóm) và thang đo 15 chỉ báo mỗi yếu tố của Usher và Pajares (2006) - công cụ được luận án tham khảo để thiết kế bảng hỏi.

3. Hướng nghiên cứu về biện pháp nâng cao tự đánh giá năng lực

Các tác giả Schunk và Pajares (2010), Madhuleena (2020), Bùi Thị Hồng Thái và Nguyễn Thị Mùi (2016), Kayla (2019), Robert Mager (1992), Mousavi (2014), Phan Thị Tuyết Nga (2015), Sezgin và Erdogan (2015) đề xuất hệ thống biện pháp: tích lũy trải nghiệm thành công, nêu gương điển hình, tạo lập môi trường làm việc tích cực, xây dựng cơ chế phản hồi khách quan và rèn luyện tâm thế lạc quan.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án xác định rõ: Các nghiên cứu trước đây chưa tiếp cận đối tượng đặc thù là giảng viên các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; chưa làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng tâm lý - xã hội đặc thù quân sự đối với 3 mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy; và chưa xây dựng được hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội chuyên biệt cho môi trường sư phạm quân sự.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và lý thuyết sử dụng

  • Tự đánh giá: Luận án tổng hợp quan điểm từ William James (1890 - công thức Tự đánh giá = Thành công / Kỳ vọng), Rosenberg (1979), Lipkina (1976), Đỗ Ngọc Khanh (2005), Vũ Dũng (2012), Nguyễn Văn Lũy và Lê Quang Sơn (2009) để xác lập: Tự đánh giá là sự nhận thức, tin tưởng của cá nhân về các giá trị bản thân trong hoạt động và giao tiếp ở môi trường xã hội.
  • Năng lực: Tiếp cận theo quan điểm hành động của Covaliov (1971), Platonov (1972), Phạm Minh Hạc (2004), xác định: Năng lực là sự thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trong những hoạt động nhất định.
  • Tự đánh giá năng lực (Self-efficacy): Kế thừa thuyết nhận thức xã hội của Albert Bandura (1977, 1997), quan điểm của Judge và cộng sự (2001), James E. Maddux và Evan Kleiman (2014), Kenneth T. Strongman (2015), Luthans và Youssef (2007), luận án định nghĩa: Tự đánh giá năng lực là nhận thức, tin tưởng của cá nhân về hiệu quả có thể đạt được khi thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động.
  • Phân biệt khái niệm: Luận án phân định rõ:
    • Tự đánh giá năng lực gắn với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên biệt trong tình huống cụ thể, khác với Tự đánh giá tổng thể (nhận thức toàn diện về giá trị bản thân).
    • Tự đánh giá năng lực (niềm tin về khả năng đạt mục tiêu) phân biệt với Tự điều chỉnh (chiến lược, suy nghĩ và hành vi thích ứng để đạt mục tiêu).
  • Giảng viên các trường sĩ quan: Tổng hợp từ khái niệm giảng viên đại học (Nguyễn Thị Tình, 2009), xác định giảng viên là chủ thể hoạt động giảng dạy, giáo dục và nghiên cứu khoa học theo mục đích, yêu cầu đào tạo của nhà trường quân đội.

Cơ sở phương pháp luận

Luận án dựa trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục - đào tạo, kết hợp 4 cách tiếp cận:

  1. Tiếp cận hệ thống: Đặt tự đánh giá năng lực trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố chủ quan và khách quan.
  2. Tiếp cận lịch sử: Xem xét sự biến đổi của tự đánh giá năng lực theo từng giai đoạn và bối cảnh nhiệm vụ quân sự cụ thể.
  3. Tiếp cận hoạt động: Khảo sát và đánh giá sự hình thành, biểu hiện của tự đánh giá năng lực trực tiếp qua hoạt động giảng dạy.
  4. Tiếp cận tâm lý học sư phạm quân sự: Làm rõ cơ chế tâm lý và đặc điểm nhân cách người thầy trong môi trường kỷ luật quân đội.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua 8 phương pháp:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích, tổng hợp lý luận trong và ngoài nước.
  2. Phương pháp xin ý kiến chuyên gia: Thẩm định hệ thống tiêu chí, chỉ báo và nội dung thang đo.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ thu thập dữ liệu chính trên diện rộng về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Khai thác sâu sắc nhận thức, cảm xúc và nguyên nhân tâm lý của giảng viên.
  5. Phương pháp quan sát (dự giờ trực tiếp): Đánh giá biểu hiện hành vi sư phạm trên lớp.
  6. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Phân tích giáo án, bài giảng, kết quả giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
  7. Phương pháp phân tích chân dung tâm lý điển hình: Khắc họa các nhóm giảng viên có mức độ tự đánh giá năng lực khác nhau.
  8. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý định lượng dữ liệu thực nghiệm bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 (kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích tương quan Pearson, so sánh điểm trung bình).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên

  • Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu lý luận và thực nghiệm về tự đánh giá năng lực và tự đánh giá năng lực giảng dạy trên thế giới và tại Việt Nam.
  • Phân tích ưu điểm và hạn chế của các bộ công cụ đo lường đã công bố (Bandura, Tschannen-Moran & Woolfolk Hoy, Schwarzer, Heppner, Usher, Poulou).
  • Xác lập 5 vấn đề trọng tâm mà luận án trực tiếp giải quyết nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu trong môi trường các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chương 2: Lý luận về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

  • Xác lập hệ thống khái niệm công cụ: tự đánh giá, năng lực, tự đánh giá năng lực, giảng viên sĩ quan.
  • Xác định cấu trúc 3 mặt biểu hiện của tự đánh giá năng lực giảng dạy (thực hiện mục đích yêu cầu giảng dạy; thu hút học viên; quản lý lớp học) và xây dựng hệ thống tiêu chí, chỉ báo đo lường (Sơ đồ 2.1).
  • Luận giải cơ chế tác động của hệ thống các yếu tố ảnh hưởng (Sơ đồ 2.2): trải nghiệm giảng dạy, học hỏi kinh nghiệm, đánh giá/phản hồi từ các cấp lãnh đạo và người học, trạng thái cơ thể/cảm xúc, sự lạc quan, cảm nhận hạnh phúc và sự hài lòng trong công việc.

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

  • Mô tả quy trình tổ chức nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu khách thể tại 4 trường sĩ quan (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Thông tin).
  • Trình bày quy trình thiết kế, thử nghiệm và chuẩn hóa bảng hỏi; kiểm định độ tin cậy của các thang đo (Bảng 3.2).
  • Xác định quy chuẩn phân chia 5 mức độ tự đánh giá năng lực (rất thấp, thấp, trung bình, cao, rất cao).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên ở các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam

  • Khảo sát thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy: Phân tích mức độ theo từng mặt biểu hiện (Bảng 4.1, Bảng 4.2, Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.1).
  • So sánh sự khác biệt theo các biến nhân khẩu học: trình độ học vấn (Biểu đồ 4.2), thâm niên công tác (Biểu đồ 4.3), sự khác biệt giữa các trường sĩ quan (Biểu đồ 4.4) và giới tính.
  • Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng thông qua hệ thống sơ đồ tương quan thực nghiệm:
    • Mối liên hệ giữa trải nghiệm hoạt động và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.1).
    • Mối liên hệ giữa học hỏi kinh nghiệm xung quanh và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.2).
    • Mối liên hệ giữa sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy, giảng viên khác, phản hồi học viên và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.3).
    • Mối liên hệ giữa trạng thái cơ thể, cảm xúc và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.4).
    • Mối liên hệ giữa sự lạc quan và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.5).
    • Mối liên hệ giữa cảm nhận hạnh phúc và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.6).
    • Mối liên hệ giữa sự hài lòng trong công việc và các mặt biểu hiện (Sơ đồ 4.7).
  • Phân tích sâu các chân dung tâm lý điển hình đại diện cho các nhóm giảng viên có mức độ tự đánh giá khác nhau.
  • Đề xuất và luận chứng hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao tự đánh giá năng lực giảng dạy cho giảng viên sĩ quan.

Tổng hợp danh mục bảng, biểu đồ, sơ đồ dữ liệu thực nghiệm trong văn bản

Loại tư liệu Ký hiệu Tên bảng / biểu đồ / sơ đồ trong văn bản Trang
Bảng số liệu Bảng 3.1 Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 89
Bảng 3.2 Độ tin cậy của các thang đo 100
Bảng 4.1 Thực trạng tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy 107
Bảng 4.2 Thực trạng tự đánh giá năng lực thu hút học viên 111
Bảng 4.3 Thực trạng tự đánh giá năng lực quản lý lớp học 114
Biểu đồ Biểu đồ 4.1 Thực trạng các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên 116
Biểu đồ 4.2 Thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên xét theo trình độ học vấn 118
Biểu đồ 4.3 Thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên theo thâm niên 119
Biểu đồ 4.4 Thực trạng tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên giữa các trường sĩ quan 120
Sơ đồ Sơ đồ 2.1 Sơ đồ các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên 72
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ các yếu tố ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên 85
Sơ đồ 4.1 Mối liên hệ giữa trải nghiệm và các mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy 122
Sơ đồ 4.2 Mối liên hệ giữa học hỏi kinh nghiệm xung quanh và các mặt biểu hiện 124
Sơ đồ 4.3 Mối liên hệ giữa sự đánh giá của lãnh đạo, giảng viên khác, phản hồi học viên và các mặt biểu hiện 126
Sơ đồ 4.4 Mối liên hệ giữa trạng thái cơ thể, cảm xúc với các mặt biểu hiện 127
Sơ đồ 4.5 Mối liên hệ giữa sự lạc quan với các mặt biểu hiện 128
Sơ đồ 4.6 Mối liên hệ giữa cảm nhận hạnh phúc và các mặt biểu hiện 130
Sơ đồ 4.7 Mối liên hệ giữa sự hài lòng trong công việc với các mặt biểu hiện 131

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Bổ sung và phát triển lý luận chuyên ngành Tâm lý học sư phạm quân sự về đặc điểm hoạt động giảng dạy và bản chất tâm lý của tự đánh giá năng lực giảng dạy ở đội ngũ giảng viên các trường sĩ quan.
  • Xác lập hệ thống tiêu chí, chỉ báo đo lường và khung lý thuyết giải thích cơ chế tương tác giữa các yếu tố tâm lý - xã hội với tự đánh giá năng lực giảng dạy trong môi trường đào tạo sĩ quan.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phát hiện về thực trạng biểu hiện: Điểm trung bình tự đánh giá năng lực thực hiện hiệu quả quản lý lớp học đạt mức cao nhất; trong khi đó, tự đánh giá năng lực thu hút học viên có điểm trung bình thấp nhất.
  • Phát hiện về thứ bậc các yếu tố ảnh hưởng:
    1. Ảnh hưởng mạnh nhất: Yếu tố Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên.
    2. Ảnh hưởng tiếp theo: Trải nghiệm trong hoạt động giảng dạy của giảng viên.
    3. Ảnh hưởng thứ ba: Sự học hỏi kinh nghiệm của những người xung quanh.
    4. Ảnh hưởng thứ tư: Trạng thái cơ thể và cảm xúc của giảng viên.
    5. Ảnh hưởng thứ năm: Sự lạc quan của giảng viên.
    6. Ảnh hưởng thứ sáu: Cảm nhận hạnh phúc trong công việc giảng dạy.
    7. Yếu tố không có ảnh hưởng: Yếu tố "Sự hài lòng trong công việc" không có ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan.
  • Ý nghĩa quản lý sư phạm: Cung cấp căn cứ khoa học cho cán bộ quản lý, lãnh đạo các nhà trường quân đội trong việc phân công nhiệm vụ, dự giờ, nhận xét, đánh giá và bố trí công tác phù hợp với đặc điểm tâm lý của từng giảng viên.

Các biện pháp đề xuất

Luận án đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội tập trung vào:

  • Tổ chức các hoạt động sư phạm nhằm tăng cường và tích lũy trải nghiệm thành công trực tiếp cho giảng viên.
  • Xây dựng môi trường sư phạm quân sự chuẩn mực, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp và lan tỏa các tấm gương điển hình.
  • Phát huy vai trò đánh giá khách quan, động viên kịp thời của lãnh đạo - chỉ huy các cấp và thiết lập kênh phản hồi sư phạm tích cực, xây dựng từ người học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ theo phạm vi được xác định trong văn bản luận án:

  • Giới hạn khách thể và địa bàn: Luận án tập trung khảo sát trên nhóm giảng viên đang trực tiếp giảng dạy tại 4 trường sĩ quan (Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh, Trường Sĩ quan Thông tin); chưa mở rộng khảo sát trên toàn bộ hệ thống các học viện, trường đại học chuyên ngành kỹ thuật quân sự hoặc trường cao đẳng khác trong toàn quân.
  • Giới hạn nội dung: Nghiên cứu tập trung vào khía cạnh tự đánh giá năng lực giảng dạy (với 3 mặt biểu hiện chính), chưa đi sâu khảo sát các năng lực nghề nghiệp khác của giảng viên như năng lực nghiên cứu khoa học hoặc năng lực quản lý giáo dục học viên ngoài giờ lên lớp.
  • Giới hạn thời gian thu thập dữ liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp trong giai đoạn 2018 - 2021.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn khảo sát sang các học viện và trường sĩ quan chuyên ngành khác; tiếp tục nghiên cứu các giải pháp can thiệp thực nghiệm sư phạm tâm lý nhằm nâng cao năng lực thu hút người học - mặt biểu hiện có điểm trung bình thấp nhất trong khảo sát thực tiễn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học ngành Tâm lý học / Giáo dục học: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lý thuyết tự đánh giá năng lực (self-efficacy), phương pháp chuyển hóa thang đo quốc tế (Usher, Bandura, Tschannen-Moran & Woolfolk Hoy) vào bối cảnh văn hóa Việt Nam và phương pháp xử lý dữ liệu thống kê bằng SPSS 20.0.
  • Đối với giảng viên các trường sĩ quan quân đội: Luận án cung cấp cơ sở để mỗi nhà giáo tự nhận thức các mặt mạnh, mặt còn hạn chế trong hoạt động lên lớp (đặc biệt là kỹ năng thu hút học viên), từ đó có phương hướng tự rèn luyện, bồi dưỡng tâm lý và kiểm soát cảm xúc khi thực hiện nhiệm vụ.
  • Đối với cán bộ quản lý, lãnh đạo - chỉ huy các nhà trường quân đội: Kết quả nghiên cứu là tài liệu phục vụ công tác tổ chức, chỉ đạo phương pháp giảng dạy, đổi mới quy trình đánh giá, nhận xét chuyên môn và phân công giảng dạy hợp lý theo thâm niên, trình độ học vấn và đặc điểm nhân cách của giảng viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát tự đánh giá năng lực giảng dạy trên những mặt biểu hiện cụ thể nào?
Luận án tập trung khảo sát 3 mặt biểu hiện chính: (1) Tự đánh giá năng lực thực hiện mục đích, yêu cầu giảng dạy; (2) Tự đánh giá năng lực thu hút học viên; và (3) Tự đánh giá năng lực quản lý lớp học.

2. Mẫu khảo sát thực tiễn của luận án được tiến hành tại những đơn vị nào và trong thời gian nào?
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 cơ sở: Trường Sĩ quan Chính trị, Trường Sĩ quan Lục quân 1, Trường Sĩ quan Công binh và Trường Sĩ quan Thông tin. Dữ liệu thực nghiệm được thu thập, xử lý và tổng hợp trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.

3. Trong 3 mặt biểu hiện, mặt nào có điểm trung bình cao nhất và mặt nào thấp nhất?
Kết quả nghiên cứu thực tiễn chỉ ra: Tự đánh giá năng lực thực hiện hiệu quả quản lý lớp học đạt điểm trung bình cao nhất; tự đánh giá năng lực thu hút học viên đạt điểm trung bình thấp nhất.

4. Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên sĩ quan?
Yếu tố "Sự đánh giá của lãnh đạo - chỉ huy các cấp, giảng viên khác và ý kiến phản hồi của học viên" là yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên tại các trường sĩ quan.

5. Luận án ghi nhận kết quả như thế nào về tác động của yếu tố "Sự hài lòng trong công việc"?
Khác với một số nghiên cứu ngoài quân đội, kết quả xử lý dữ liệu thực nghiệm của luận án khẳng định yếu tố "Sự hài lòng trong công việc" không có sự ảnh hưởng đến tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Minh Nguyệt đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở lý luận chuyên ngành Tâm lý học sư phạm quân sự về tự đánh giá năng lực giảng dạy của giảng viên các trường sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính với bộ công cụ đo lường được chuẩn hóa và xử lý trên phần mềm SPSS 20.0, luận án đã làm rõ thực trạng 3 mặt biểu hiện tự đánh giá năng lực giảng dạy cùng thứ bậc ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý - xã hội. Những phát hiện thực nghiệm về vị trí tác động hàng đầu của sự đánh giá từ lãnh đạo, đồng nghiệp và học viên là căn cứ xác đáng để đề xuất hệ thống biện pháp tâm lý - xã hội nâng cao chất lượng hoạt động sư phạm trong các nhà trường quân đội.