CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Công trình nghiên cứu về quản trị tri thức và quản trị tri thức trong trường đại học Trên thế giới, các nghiên cứu về QTTT chỉ mới phát triển mạnh trong ba thập kỷ gần đây. Mặc dù số lượng nghiên cứu chưa nhiều nhưng QTTT đã thực sự thu hút sự quan tâm của giới khoa học, học thuật và kinh doanh.
QTTT được xem là một phần trong các nghiên cứu về quản trị nhưng lại có mối liên kết chặt chẽ với thông tin và công nghệ truyền thông, được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nhằm sáng tạo, quản lý và thúc đẩy tài sản trí tuệ trong tổ chức (Gao & cộng sự, 2018). Dựa trên tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả rút ra một số hướng nghiên cứu chính về QTTT và QTTT trong trường ĐH như sau: Thứ nhất, nghiên cứu các khái niệm và cách tiếp cận tri thức và QTTT. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tri thức vì đây là một khái niệm phức tạp và trừu tượng. Cho đến ngày nay, khái niệm về tri thức vẫn được các nhà nghiên cứu, nhà triết học tranh cãi.
Những nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra khái niệm tri thức là Nonaka & Takeuchi (1995a) và Davenport & Prusak (1998). Tương tự, đối với khái niệm QTTT, có nhiều định nghĩa khác nhau dựa vào quan điểm, lĩnh vực nghiên cứu và cách tiếp cận của mỗi nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, cách tiếp cận theo mạng lưới liên kết ngữ dụng học được sử dụng phổ biến trong thời gian gần đây để tìm hiểu về QTTT. Trong đó, cách tiếp cận bản thể luận được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu nội hàm các khái niệm, ngữ nghĩa học của các thuật ngữ và các khái niệm cũng như mối liên hệ giữa chúng (Gao & cộng sự, 2018).
Thứ hai, nghiên cứu về hệ thống QTTT.“Hệ thống QTTT là “một hệ thống siêu truyền thông, giúp nhiều người dùng hợp tác trong việc tạo và chia sẻ thông tin trong phạm vi lớn, chia sẻ các siêu văn bản”. Ngày nay, khi CNTT bùng nổ, hệ thống QTTT được cho là bất kỳ hệ thống CNTT nào thúc đẩy quá trình chia sẻ và tích hợp tri thức”(Alavi & Leidner, 1999) và mối quan hệ xã hội (sức mạnh gắn kết, các chuẩn mực xã hội được chia sẻ, và niềm tin) đóng vai trò quan trọng trong việc sử dụng hệ thống QTTT tại DN. Trong môi trường GDĐH, hệ thống QTTT hỗ trợ trường ĐH nâng cao chất lượng lượng sinh viên tốt nghiệp và kết quả công việc của viên chức 8 (Ramakrishnan & Yasin, 2012). Theo kết quả khảo sát GV tại trường ĐH Kashmir ở Ấn Độ về nhận thức và áp dụng hệ thống QTTT, 60% số người được hỏi có nhận thức rõ về hệ thống QTTT; 86.2% cho rằng hệ thống QTTT là cần thiết đối với nhà nghiên cứu (Husain & Gul, 2019).
Trên thực tế, nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu đã đề xuất xây dựng hệ thống QTTT trong trường ĐH. Rah & cộng sự (2010) đề xuất áp dụng một hệ thống QTTT dựa trên nền tảng web tại các thư viện ở trường ĐH. Tương tự, Bast & cộng sự (2014) tiến hành triển khai một hệ thống QTTT tích hợp trong hệ thống quản trị tại trường ĐH quốc tế Lebanese, Ả rập để hỗ trợ quá trình đào tạo, quản lý và hoạt động của nhà trường. Thứ ba, nghiên cứu về các công cụ QTTT.
Trong thời đại hiện nay, nhiều công cụ khác nhau được sử dụng để giúp các quá trình tiếp nhận, chia sẻ và áp dụng tri thức diễn ra nhanh hơn. Các công cụ như thư điện tử, mạng xã hội, mạng nội bộ, công cụ web 2.0, wikis,… được xem là những công cụ phổ biến trong QTTT. Theo Đoàn Văn Tân (2019), trường ĐH có thể sử dụng các công cụ hỗ trợ cho QTTT, cụ thể“việc sáng tạo nội dung tri thức như: hệ thống quản lý nội dung, công cụ chú thích, phần mềm khai thác dữ liệu và khám phá tri thức. Các công cụ hỗ trợ cho việc bổ sung và áp dụng tri thức có: học trực tuyến, trực quan dữ liệu, bản đồ tri thức, trí tuệ nhân tạo, hệ thống hỗ trợ quyết định, hệ chuyên gia.
Trong khi đó, các công cụ hỗ trợ cho việc chia sẻ và phổ biến tri thức gồm: phần mềm nhóm và công cụ hợp tác, công nghệ mạng, cổng tri thức, lọc thông tin, v.” Thứ tư, nghiên cứu về thực trạng QTTT trong tổ chức và trường ĐH. Arntzen & cộng sự (2009) đã cung cấp một bức tranh chi tiết về thực trạng triển khai QTTT tại Trường ĐH Bangkok, Thái Lan. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong suốt giai đoạn khởi đầu, Trường ĐH Bangkok tập trung vào phát triển và lắp đặt hệ thống công nghệ để thúc đẩy quá trình chia sẻ tri thức giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các phân hiệu của trường. Ở giai đoạn thứ hai, mỗi đơn vị trong trường sẽ triển khai QTTT tại đơn vị của mình dựa vào đặc điểm văn hóa, nhu cầu riêng nhằm khích lệ mọi người chia sẻ tri thức và lưu trữ tri thức hiệu quả.
Tuy nhiên, quá trình triển khai QTTT tại Trường ĐH Bangkok gặp phải một số khó khăn như: khối lượng công việc nhiều đã hạn chế viên chức tham gia ứng dụng công nghệ số; thiếu lộ trình QTTT; chưa có cơ chế khen thưởng khuyến khích viên chức tham gia vào các quá trình QTTT, v. Chủ đề này cũng được đề cập tới trong nghiên cứu của Dei & Van Der Walt (2020); Fombad & Sirorei (2019); Stroińska & Trippner-Hrabi (2018); v. 9 Thứ năm, xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về QTTT. Việc xây dựng và kiểm định các mô hình lý thuyết là điều kiện cần thiết giúp các tổ chức xác định được các nhân tố thúc đẩy QTTT cũng như đánh giá mức độ tác động của QTTT tới sự đổi mới, sáng tạo, năng lực cạnh tranh hay KQHĐ của tổ chức để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm triển khai QTTT thành công.
Tuy nhiên, việc xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết về QTTT trong trường ĐH chưa được thực hiện nhiều (Quarchioni & cộng sự, 2020). Thông qua tổng hợp và phân tích 121 bài báo nghiên cứu về QTTT trong lĩnh vực GDĐH xuất bản từ năm 1990 đến năm 2018 (được trích xuất từ dữ liệu SCOPUS), nhóm tác giả khẳng định phần lớn các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận trường ĐH như là một tổ chức và tiến hành nghiên cứu tình huống (49%). Cũng theo nhóm nghiên cứu, gần đây có 27% tổng số bài báo xây dựng được mô hình lý thuyết rõ ràng và tiến hành kiểm định. Như vậy, nghiên cứu về QTTT trong trường ĐH theo hướng tiếp cận xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết trong thực tế đang được quan tâm và cần được tăng cường trong thời gian tới.
Công trình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến quản trị tri thức Trong các nghiên cứu về xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết, phần lớn các nghiên cứu về QTTT gần đây tập trung vào xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến QTTT (Fteimi & Lehner, 2016). Bên cạnh đó, tác động của QTTT đối với năng lực canh tranh, sự đổi mới, sáng tạo hay KQHĐ của tổ chức cũng là một trong những hướng nghiên cứu chính để có thể nhìn nhận tổng thể hơn mức độ ảnh hưởng của các nhân tố thúc đẩy QTTT (Kör, 2017). Tuy nhiên, do cách tiếp cận của mỗi công trình nghiên cứu khác nhau, có nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng đến từng quá trình QTTT nhưng lại có công trình nghiên cứu tìm hiểu tác động của các nhân tố đến toàn bộ quá trình của QTTT hay sự sẵn sàng triển khai QTTT trong tổ chức. Do đó, các nhân tổ ảnh hưởng đến QTTT nói chung chưa thống nhất về cả số lượng và nội dung.1 tổng hợp một số nghiên cứu ở Việt Nam và ở nước ngoài về các nhân tố ảnh hưởng đến QTTT từ năm 2000 đến năm 2020 trong các loại hình tổ chức, bao gồm trường ĐH.
Qua tổng quan, tác giả nhận thấy phần lớn các nghiên cứu trước đây phân chia các nhân tố ảnh hưởng đến QTTT thành 4 nhóm nhân tố như sau: nhóm nhân tố thuộc về tổ chức; nhóm nhân tố thuộc về cá nhân; nhóm nhân tố thuộc về công nghệ và nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài tổ chức.1: Tổng hợp một số nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến QTTT Các nhân tố ảnh hưởng Đối tượng Cỡ mẫu/ Phương pháp STT Tác giả Nhân tố Nhân tố Nhân tố Nhân tố QTTT nghiên cứu nhóm nghiên cứu thuộc về thuộc về thuộc về bên ngoài tổ chức cá nhân CN tổ chức Tiếp nhận, sáng tạo, Các cơ sở GDĐH 1. Rowley (2000) v phổ biến, lưu trữ, ứng Định tính Anh Quốc dụng, chuyển giao tri thức Định tính (xây Stankosky & 2. v v Các công ty ở Mỹ dựng mô hình Baldanza (2001) lý thuyết) 203 phiếu trả lời từ nhà Các tổ chức ở Định lượng Lee & Choi quản trị cấp trung phụ trách 3. v v Sáng tạo tri thức Hàn Quốc (hồi quy (2003) dự án QTTT của các tổ đa biến) chức (lẫy mẫu thuận tiện) Yu & cộng sự DN 4.
v v v Hiệu quả hoạt động QTTT 66 DN Định lượng (2004) Hàn Quốc Định lượng (sử Wong & Học giả, nhà tư vấn và hoạt dụng phiếu điều 5. v v DN nhỏ và vừa Aspinwall (2005) động trong lĩnh vực QTTT tra; so sánh đối chiếu) Sáng tạo, tiếp cận, Định lượng Lee & Lee DN đã áp dụng 215 phiếu trả lời từ 68 công 6. v v đẩy mạnh, áp dụng, chuyển (sử dụng mô (2007) QTTT ty (lấy mẫu thuận tiện) giao và đo lường tri thức hình SEM) Trường ĐH 7. Talisayon (2008) v v Định tính Mahidol, Thái Lan 11 Các nhân tố ảnh hưởng Đối tượng Cỡ mẫu/ Phương pháp STT Tác giả Nhân tố Nhân tố Nhân tố Nhân tố QTTT nghiên cứu nhóm nghiên cứu thuộc về thuộc về thuộc về bên ngoài tổ chức cá nhân CN tổ chức 384 phiếu trả lời từ các Định lượng Zheng & cộng sự Tiếp nhận, chia sẻ, và Các tổ chức ở khu chuyên gia nhân sự (lấy 8.
v v v v Các DN Định tính (2012) Đinh lượng Huang & Lai DN bảo hiểm Đài 362 phiếu điều tra tù nhân 10. v v v v (sử dụng mô (2014) Loan viên của 8 công ty bảo hiểm hình SEM) 248 phiếu trả lời từ nhà Định lượng Ho & cộng sự Sáng tạo, tích lũy, chia sẻ, 11.