Chương 1: Giới thiệu Trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc luận văn. 4 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Làm rõ các khái niệm trong quá trình nghiên cứu và giới thiệu cơ sở lý thuyết liên quan đến: Hệ hỗ trợ quyết định; Ra quyết định trong quản lý; Cây quyết định. Giới thiệu các nghiên cứu trước có liên quan để từ đó lựa chọn thuật toán xây dựng cây quyết định nâng lương. Giới thiệu thuật toán C4.
Chương 3: Giải pháp hỗ trợ đánh giá công tác nâng lương trước thời hạn Nghiên cứu và phân tích thực trạng công tác nâng lương tại trường Đại học Đà Lạt, nêu những vấn đề hạn chế và đề xuất giải pháp, đó là giải pháp áp dụng cây quyết định để giải quyết bài toán đặt ra. Chương 4: Xây dựng và thử nghiệm ứng dụng Trong chương này tác giả trình bày mô hình tổng thể của hệ thống, phương pháp xây dựng chương trình. Tiến hành thử nghiệm ứng dụng trên số liệu thực tế, thống kê và đánh giá kết quả đạt được. Chương 5: Kết luận Những kết quả đạt được, ưu điểm, hạn chế nghiên cứu và đề xuất hướng phát triển của đề tài.
5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Hệ hỗ trợ quyết định 2. Tổng quan Hệ hỗ trợ quyết định được biết đến như là một giải pháp hữu hiệu cho việc giải quyết các bài toán nhiều mục tiêu mâu thuẫn nhau. Trong thực tế, các bài toán loại này rất thường gặp và hiệu quả đạt được từ những quyết định đơn thuần dựa theo cảm tính và kinh nghiệm thường không cao hoặc không được như mong đợi.
Hệ hỗ trợ quyết định là sự kết hợp giữa kinh nghiệm và các thuật giải dựa trên cơ sở khoa học vững chắc giúp nâng cao chất lượng và độ tin cậy của các quyết định cũng như giảm thiểu những sai sót mà quyết định có thể đem lại. Quá trình ra quyết định Quá trình ra quyết định gồm 3 giai đoạn [14]: - Tìm hiểu (intelligence): bài toán dẫn đến quyết định. - Thiết kế (design): phân tích và xây dựng các diễn trình hành động. - Chọn lựa (choice): chọn một diễn trình trong tập diễn trình.
Tiếp theo giai đoạn chọn lựa là giai đoạn hiện thực. Giai đoạn tìm hiểu Trong giai đoạn này các nội dung chính cần phải thực hiện bao gồm: - Nhận diện vấn đề. - Phân loại vấn đề. - Phân rã vấn đề: chia ra các bài toán nhỏ và đơn giản hơn.
- Xác định chủ thể vấn đề: trách nhiệm giải quyết và năng lực giải quyết. - Phát biểu vấn đề chính thức. 6 GIAI ĐOẠN TÌM HIỂU Xác định mục tiêu tổ chức Đơn giản các giả định Tìm kiếm và tập hợp dữ liệu Nhận diện, phát biểu chủ đề bài toán Phân loại và phát biểu vấn đề Phát biểu vấn đề Hợp thức hóa mô hình GIAI ĐOẠN THIẾT KẾ Thực tại Thiết lập mô hình Lập bảng tiêu chuẩn chọn lựa Tìm kiếm các phương án Tiên đoán và đo lường các kết cục Phương án Kiểm thử giải pháp đề xuất GIAI ĐOẠN LỰA CHỌN Giải pháp cho các mô hình Phân tích độ nhạy Giải pháp Chọn phương án tốt nhất Hoạch định việc thực hiện Hiện thực các giải pháp Thất bại Thành công Hình 2. Quá trình ra quyết định [14] Giai đoạn thiết kế Ở giai đoạn thiết kế, mục tiêu quan trọng là phải xây dựng được mô hình, từ đó việc thực hiện phân tích quyết định sẽ trên mô hình thay vì trên thực tại.
Mô hình: Là sự biểu diễn của thực tại (thường được đơn giản hóa) theo một cách nhìn nhất định [19]. Giai đoạn chọn lựa Trong giai đoạn này, cần chú ý đến các nội dung sau: - Hoạt động định giá o Phân tích “What-if”: Xác định điều gì sẽ xảy ra đối với giải pháp nếu một biến nào đó thay đổi. 7 o Dò tìm mục tiêu: Tính toán, định lượng các giá trị cần thiết để đạt được mức độ mục tiêu mong muốn. - Đề nghị giải pháp cho mô hình dựa trên các kết quả định giá.
- Hoạch định việc thực hiện cho giải pháp đề nghị. Các thành phần của hệ hỗ trợ quyết định Các hệ thống máy tính Mạng Internet, intranets, khác extraets Cơ sở dữ liệu Quản lý dữ liệu Quản lý mô hình Các mô hình ngoài Phân hệ quản lý dựa trên tri thức Giao diện người dùng Nhà quản lý Cơ sở tri thức tổ chức (Người dùng) Hình 2. Các thành phần của hệ hỗ trợ quyết định [8] Hệ hỗ trợ quyết định bao gồm nhiều thành phần, trong đó có các thành phần chính như sau: a. Phân hệ quản lý dữ liệu Gồm một cơ sở dữ liệu chứa các dữ liệu cần thiết của tình huống và được quản lý bởi một hệ quản trị cơ sở dữ liệu.
Phân hệ này có thể được kết nối với kho dữ liệu - là kho chứa dữ liệu của tổ chức có liên đới đến vấn đề ra quyết định. Phân hệ quản lý mô hình Còn được gọi là hệ quản trị cơ sở mô hình, là gói phần mềm gồm các thành phần về thống kê, tài chính, khoa học quản lý hay các phương pháp định lượng nhằm trang bị cho hệ thống năng lực phân tích; cũng có thể có các ngôn ngữ mô hình hóa ở đây. Thành phần này có thể kết nối với các kho chứa mô hình của tổ chức hay ở bên ngoài nào khác. Phân hệ quản lý dựa vào tri thức Có thể hỗ trợ các phân hệ khác hay hoạt động độc lập nhằm đưa ra tính thông minh của quyết định đưa ra.
Nó cũng được kết nối với các kho tri thức khác của tổ chức. Phân hệ giao diện người dùng Giúp người sử dụng giao tiếp với và ra lệnh cho hệ thống. Các thành phần vừa kể trên tạo nên hệ hỗ trợ quyết định, có thể kết nối với intranets, extranets của tổ chức hay kết nối trực tiếp với Internet. Ra quyết định trong quản lý 2.
Giả thuyết về sự hợp lý Trước khi nghiên cứu quá trình ra quyết định của các nhà quản lý, cần phải thông hiểu một giả thiết quan trọng ẩn chứa trong quá trình. Đó là “giả thiết về sự hợp lý” [15]. Giả thiết về sự hợp lý cho rằng các quyết định được đưa ra là kết quả của một sự lựa chọn có lập trường và với mục tiêu là tối ưu (cực đại hay cực tiểu) một giá trị nào đó trong những điều kiện ràng buộc cụ thể. Theo giả thiết này, người ra quyết định hoàn toàn khách quan, có logic, có mục tiêu rõ ràng và tất cả hành vi trong quá trình ra quyết định dựa trên một lập trường duy nhất nhằm được mục tiêu cực trị một giá trị nào đó đồng thời thỏa mãn các điều kiện ràng buộc.
Cụ thể hơn, quá trình ra quyết định hợp lý được dựa trên các giả thiết sau: - Người ra quyết định có mục tiêu cụ thể. - Tất cả các phương án có thể có đều được xác định đầy đủ. 9 - Sự ưa thích của người ra quyết định cần phải rõ ràng, cần lượng hóa các tiêu chuẩn của các phương án và xếp hạng các tiêu chuẩn theo thứ tự ưa thích của người ra quyết định. - Sự ưa thích của người ra quyết định là không thay đổi trong quá trình ra quyết định, nghĩa là các tiêu chuẩn và trọng số của các tiêu chuẩn là không đổi.
- Không có sự hạn chế về thời gian và chi phí, nghĩa là có đủ điều kiện để thu nhập đầy đủ thông tin trước khi ra quyết định. - Sự lựa chọn cuối cùng sẽ là tối ưu mục tiêu mong muốn. Các phương pháp ra quyết định trong quản lý Loại vấn đề mà người ra quyết định gặp phải là một yếu tố quan trọng trong quá trình ra quyết định. Ra quyết định trong quản lý được phân loại dựa trên hai cơ sở: Cấu trúc của vấn đề và tính chất của vấn đề [15].
Ra quyết định theo cấu trúc của vấn đề Theo cấu trúc của vấn đề người ta chia vấn đề làm hai loại: Vấn đề có cấu trúc tốt: Khi mục tiêu được xác định rõ ràng thông tin đầy đủ, bài toán có dạng quen thuộc. Vấn đề có cấu trúc kém: Dạng bài toán mới mẽ, thông tin không đầy đủ, không rõ ràng. Thông thường, các vấn đề có cấu trúc tốt có thể được phân quyền cho các nhà quản lý cấp dưới ra quyết định theo những tiêu chuẩn và các hướng dẫn đã được lập sẵn. Còn các nhà quản lý cấp cao trong tổ chức sẽ dành nhiều thời gian cho các vấn đề có cấu trúc kém.
Do vậy tương ứng với hai loại vấn đề sẽ có hai loại ra quyết định đó là ra quyết định theo chương trình và ra quyết định không theo chương trình: - Ra quyết định theo chương trình: Nhằm giải quyết các bài toán cấu trúc tốt, lặp đi lặp lại, các phương án hầu như có sẵn, lời giải thường dựa trên các kinh nghiệm. Thường để giải quyết bài toán dạng này, các nhà quản lý lập ra các quy trình, luật hay chính sách: 10 o Quy trình: Bao gồm một chuỗi các bước có liên quan nhau mà người ra quyết định có thể sử dụng để xử lý các bài toán cấu trúc tốt. o Luật: Là phát biểu cụ thể hướng dẫn người ra quyết định nên làm điều gì và không nên làm điều gì. o Chính sách: Là các hướng dẫn để định hướng cho người ra quyết định trong việc giải quyết vấn đề.
Khác với luật, chính sách thường là những khái niệm chung chung để cho người ra quyết định tham khảo hơn là những điều buộc người ra quyết định phải làm. - Ra quyết định không theo chương trình: Nhằm giải quyết các bài toán cấu trúc kém, các vấn đề mới, đơn chiếc không lặp đi lặp lại, thông tin không rõ ràng. Trong thực tế có nhiều bài toán ở dạng trung gian giữa hai loại vấn đề trên. Ra quyết định theo tính chất của vấn đề Theo tính chất của vấn đề, có thể chia quyết định làm ba loại: Ra quyết định trong điều kiện chắc chắn: Khi ra quyết định, đã biết chắc chắn trạng thái nào sẽ xảy ra, do đó sẽ dễ dàng và nhanh chóng ra quyết định.
Ra quyết định trong điều kiện rủi ro: Khi ra quyết định đã biết được xác suất xảy ra của mỗi trạng thái. Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn: Khi ra quyết định, không biết được xác suất xảy ra của mỗi trạng thái hoặc không biết được các dữ liệu liên quan đến các vấn đề cần giải quyết. Cây quyết định 2.