Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng 1. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng ở nước ngoài * Hướng thứ nhất: Chú trọng cách thức, kỹ thuật của hành động Đại diện cho quan niệm này là các tác giả: V. Xtoliarenco… Các tác giả cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần quan tâm đến kết quả của hành động.
Còn hành động có kết quả hay không, việc thực hiện hành động đó có quan hệ gì đến mục đích và các điều kiện thực hiện mục đích thì không cần quan tâm. Crucheski (1981), với công trình “Những cơ sở tâm lý học, tập 2” quan niệm: “Kỹ năng - Đó là sự thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ sử dụng những thủ thuật, những phương thức đúng đắn” [9, tr. Petrovski quan niệm về kỹ năng được thể hiện trong cuốn Từ điển tâm lý học (1990) do A. Iarosevxki chủ biên, cho rằng: “Kỹ năng là phương thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo.
Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện đã thay đổi” [50, tr. * Hướng thứ hai: Chú trọng năng lực, kết quả của hành động Các tác giả theo hướng này cho rằng kỹ năng là biểu hiện của năng lực cá nhân. Đại diện là các tác giả: K. Golubev chú ý tới mặt kết quả của hành động trong kỹ năng.
Hai tác giả này cho rằng kỹ năng là khả năng con người tiến hành công việc một cách có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thời gian tương ứng. Gonobolin (1979) với công trình “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, tập 1”, 13 tác giả quan niệm kỹ năng là thành phần của năng lực và ông nhấn mạnh rằng năng lực khác với kỹ xảo và kỹ năng ở chỗ: “Kỹ xảo và kỹ năng là kết quả của sự luyện tập, học tập, còn để phát triển năng lực ngoài ra cần phải có các tư chất, tức là đặc điểm về giải phẫu sinh lý của hệ thần kinh con người.Năng lực gắn liền với các tri thức và kỹ năng của con người” [18, tr. Có quan niệm về kỹ năng lại nhấn mạnh đến tiêu chí đánh giá của hoạt động vận động. Froehlich: “Kỹ năng: Khái niệm chỉ mức độ dễ dàng, nhanh chóng và chính xác của các hoạt động vận động.
Từ tiếng Anh (skill) còn được dùng theo nghĩa là năng lực và kỹ năng cơ bản (ví dụ: đọc, viết, tính toán) theo nghĩa làm chủ nói chung, kỹ thuật làm việc phù hợp với việc thực hiện dễ dàng một loạt các hoạt động cụ thể” [dẫn theo 33, tr. Quan niệm này hướng đến cho việc xây dựng tiêu chí đánh giá kỹ năng. * Hướng thứ ba: Chú trọng mức độ kỹ năng và giai đoạn hình thành kỹ năng Đại diện quan điểm này là X. Kixegof với công trình nghiên cứu "Hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục đại học".
Tác giả đã phân tích sâu sắc khái niệm kỹ năng. Ông phân biệt hai loại kỹ năng: Kỹ năng bậc thấp (hay còn gọi là kỹ năng nguyên sinh) được hình thành qua các hoạt động giản đơn, nó là cơ sở hình thành kỹ xảo. Kỹ năng bậc cao (gọi là kỹ năng thứ sinh) - mà cơ sở của nó là tri thức và kỹ xảo [dẫn theo 79, tr. Golubev chỉ rõ 5 mức độ hình thành kỹ năng (tương ứng với 5 giai đoạn).
Giai đoạn 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục đích và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”. Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ. Giai đoạn 3: Kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ. Giai đoạn 4: Kỹ năng ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao tác kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích.
Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân 14 vừa thành thạo vừa sáng tạo trong sử dụng các kỹ năng ở những điều kiện khác nhau [dẫn theo 86, tr. Một số tác giả V. Petrovxki (1982)… cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động. Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu (thử sai).
Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt được mục đích đặt ra. * Hướng thứ tư: Kỹ năng là biểu hiện của hành vi ứng xử Các tác giả khi tiếp cận khía cạnh này cho rằng, bên cạnh những tiêu chí để đánh giá kỹ năng như tính hiệu quả, tính linh hoạt, tính thành thục, tính khái quát, tính sáng tạo…còn xem xét đến thái độ, động cơ của mỗi cá nhân trong thực hiện những hành động mà có kỹ năng đó. Cách tiếp cận này cần xem xét kỹ năng ở góc độ rộng hơn khi nó liên hệ chặt chẽ với yếu tố thái độ, niềm tin trong mỗi hành vi của một hoạt động. Xuất phát bởi quan niệm từ suy nghĩ đến hành vi, tác giả J.
Richard coi kỹ năng là những hành vi được thể hiện ra hành động bên ngoài và chịu sự chi phối cách thức con người cảm nhận và suy nghĩ [99, tr. Tuy thừa nhận những hành vi có kỹ năng là khả năng lựa chọn những kiến thức, kỹ thuật thích hợp và sử dụng chúng có kết quả, nhưng S. Bartte Hariet [97] coi trọng sự lựa chọn đó chịu sự ảnh hưởng của thái độ, niềm tin của cá nhân đối với hoạt động cụ thể. Đây là cách tiếp cận mới khi quan niệm về kỹ năng và khá phù hợp cho những nghiên cứu chuyên sâu về kỹ năng trong các lĩnh vực cụ thể.
Trên thực tế, có nhiều kỹ năng cần phải được xem xét trên khía cạnh thái độ, trách nhiệm, như kỹ năng hỗ trợ người bị nạn, kỹ năng ứng phó với tình huống khẩn cấp, kỹ năng thiết lập quan hệ người - người…mà không chỉ dừng lại trong việc vận dụng kiến thức, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói quen cũ mà có được. Như vậy, phần lớn các quan niệm không có gì mâu thuẫn với nhau mà chỉ mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi triển khai của một kỹ năng cũng như các thành phần trong cấu trúc của kỹ năng. Có 4 hướng chính nghiên cứu về kỹ năng: Hướng chú trọng cách thức, kỹ thuật của hành động; hướng chú trọng 15 năng lực, kết quả hành động; hướng nghiên cứu mức độ và các giai đoạn của kỹ năng; hướng xem xét kỹ năng là biểu hiện của hành vi ứng xử. Các công trình nghiên cứu về kỹ năng ở trong nước Trong những năm gần đây, trong nước có một số tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Những quan điểm đó có thể khái quát thành 2 hướng nghiên cứu chính như sau: * Hướng thứ nhất: Chú trọng cách thức, kỹ thuật của hành động Đại diện cho quan niệm này là các tác giả Trần Trọng Thuỷ, Hà Nhật Thăng, Hoàng Anh, Đào Thị Oanh… Các tác giả này quan niệm: Kỹ năng là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở hệ thống những kiến thức và kỹ xảo. Tác giả Hoàng Anh (2016) với công trình“Hoạt động - Giao tiếp - Nhân cách” cho rằng: “Kỹ năng, trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của thao tác hay hành động nhất định” [3, tr. Kỹ năng không phải bẩm sinh mà được hình thành thông qua con đường luyện tập, kỹ năng tạo điều kiện cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay đổi. Xuất phát từ chỗ coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệm, khi nắm vững được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ thuật của nó thì sẽ đạt kết quả.
Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện được hành động theo đúng kỹ thuật thì phải thông qua quá trình học tập và rèn luyện. Như vậy, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con người đã nắm vững, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm vững được các tri thức về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu cần có của nó mà không cần tính đến kết quả của hành động. * Hướng thứ hai: Chú trọng năng lực, kết quả của hành động Khi bàn đến kỹ năng các tác giả luôn coi trọng năng lực cũng như kết quả của một hành động nhất định. Khi thực hiện một hành động nào đó mà không có kết quả thì cũng không thể gọi là người đó có kỹ năng.
Đại diện hướng nghiên cứu này là Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng, Phạm Thành Nghị, Ngô Công Hoàn, Đỗ Mạnh Tôn… 16 Nguyễn Quang Uẩn (2010) với công trình “Tuyển tập nghiên cứu về tâm lý - giáo dục” cho rằng: “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực tiễn cho phép” [86, tr. Tác giả nhấn mạnh, người có kỹ năng hành động phải: Có tri thức về hành động, bao gồm mục đích của hành động, các điều kiện, phương tiện đạt mục đích, cách thức thực hiện hành động; tiến hành hành động đúng với yêu cầu của nó; đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra; có thể hành động có kết quả trong những điều kiện khác [86, tr. Tác giả Vũ Dũng (chủ biên) (2008) với công trình “Từ điển tâm lý học”, quan niệm: Kỹ năng là khả năng thực hiện những hành động mà không cần đến sự kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường luyện tập [11, tr. Phạm Thành Nghị (2013) với công trình “Tâm lý học giáo dục”, cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể” [42, tr.
Theo tác giả, muốn thực hiện bất kỳ kỹ năng nào cũng cần phải có cơ sở lý thuyết nhất định tức là kiến thức. Điều quan trọng là phải phát hiện ra những thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ, bài tập để thực hiện mục đích nhất định. Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi chính là tạo ra kỹ năng.