Chương 1: Giới thiệu lý do, mục tiêu, phạm vi và đối tượng của đề tài thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo thật cần thiết và cấp thiết. • Chương 2: Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài, lý thuyết chất lượng, đảm bảo chất lượng đào tạo, kỹ thuật hệ thống, căn cứ quy phạm thiết kế. • Chương 3: Trình bày phương pháp luận thực hiện đề tài. • Chương 4: Giới thiệu tổng quan về đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng đào tạo tại đây. • Chương 5: Thiết kế hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của trường theo phương pháp luận đã trình bày. Mục tiêu, chức năng yêu cầu của hệ thống, cây mục tiêu, cây chức năng của hệ thống. Xây dựng hệ thống sơ khởi, hệ thống chi tiết.
• Chương 6: Trình bày kết luận đề tài và những kiến nghị cho việc phát triển trong tương lai. Tài liệu tham khảo và phụ lục giải thích, minh chứng cho nội dung nghiên cứu. 3 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Chất lượng, quản lý chất lượng trong giáo dục đào tạo 2.1 Chất lượng Chất lượng luôn là vấn đề quan tâm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Nhưng với mỗi ngành, mỗi lĩnh vực lại có những khái niệm về chất lượng cho riêng mình và có sự biến đổi theo từng thời kỳ.
Ngày nay, chất lượng được xem là mục tiêu là cam kết mà mỗi doanh nghiệp, tổ chức không ngừng xây dựng, duy trì và nâng cao. Nhiều khái niệm chất lượng tuy có khác nhau, nhưng chung nhất chất lượng vẫn được hiểu là một cái gì đó tốt nhất, hoàn hảo nhất mà mọi doanh nghiệp, tổ chức mong muốn hướng đến. Đó có thể là sản phẩm tốt nhất, bền nhất, sự hài lòng của khách hàng cao nhất. Để đạt được điều trên, bản thân các tổ chức phải sự hiểu biết, quyết tâm, nỗ lực và hợp tác của các bộ phận.
Chất lượng từ hàng hoá; chất lượng của quá trình hoạt động của tổ chức; chất lượng đến khách hàng, bao gồm khách hàng bên trong và bên ngoài. Chất lượng được xây dựng, kiểm soát, duy trì, và nâng cao là một quá trình và quá trình này xác định và quản trị các hoạt động cần thiết để đạt được mục tiêu chất lượng của một tổ chức. Quá trình này gọi là quản lý chất lượng. Theo Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế ISO: “Quản lý chất lượng nhằm đề ra các chính sách, mục tiêu, trách nhiệm, thực hiện bằng các biện pháp hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, cải tiến chất lượng, đảm bảo chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”.
Đảm bảo chất lượng là quá trình được thực hiện trước và trong quá trình sản xuất/dịch vụ. Đảm bảo chất lượng (ĐBCL) nhằm phòng ngừa sự xuất hiện của những sản phẩm không đạt chất lượng yêu cầu. Đảm bảo sản phẩm hoàn thành với chất lượng tốt nhất, tránh lãng phí. ISO định nghĩa ĐBCL như sau: “tất cả các hoạt động có hoạch định hay có hệ thống cần thiết nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ 4 là đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng”.
Trong giáo dục đại học, ĐBCL được xem là “tổng số các cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục - bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích, đánh giá và kiểm soát chất lượng” (Warren Piper, 1993). Nguyễn Đức Chính (2002) khẳng định: “ĐBCL là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Trong quá trình này thì mối quan tâm của ĐBCL là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên. Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào và phần lớn trách nhiệm thuộc về người lao động”.2 Quản lý chất lượng trong giáo dục đào tạo Trong giai đoạn khoa học – kỹ thuật – công nghệ ngày càng phát triển và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, nếu xem người học là khách hàng, giáo dục là một dịch vụ thì việc nâng cao chất lượng dịch vụ làm thoả mãn khách hàng là một việc được nhiều cấp quan tâm.
Đặc biệt là giáo dục đào tạo đại học. Chất lượng và không ngừng nâng cao chất lượng được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại và phát triển của mỗi nhà trường, đó cũng chính là thước đo để đánh giá, so sánh trường này với trường kia, cơ sở giáo dục này với cơ sở giáo dục khác. Chất lượng đào tạo còn là cơ sở giúp các nhà quản lý giáo dục và cả cộng đồng xã hội đánh giá, phân loại giữa các nhà trường. Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình đào tạo, phản ánh năng lực, phẩm chất, giá trị của người học khi tốt nghiệp.
Mỗi cơ sở đào tạo cần chủ động xác định mục tiêu đào tạo của đơn vị mình có phù hợp với yêu cầu xã hội, yêu cầu của người sử dụng lao động để đạt được “chất lượng bên ngoài”. Song song đó, các hoạt động của cơ sở luôn vì mục tiêu đã đề ra nhằm đạt được “chất lượng bên trong”. Trong quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học Ban hành kèm theo Quyết định 06/VBHN-BGDĐT ngày 04 tháng 3 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại 5 học của Luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”. Có nhiều quan điểm về chất lượng trong giáo dục đại học, GS.TS Nguyễn Đức Chính (2002) đưa ra quan điểm chất lượng được đánh giá bằng “đầu vào”: “Chất lượng một trường Đại học phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường Đại học đó”.
Mỗi quan điểm đều có điểm mạnh và điểm yếu khác nhau, nhưng tất cả đều vì mục tiêu tuân theo các chuẩn quy định và đạt được các mục tiêu đề ra. Phương pháp và quy trình tiến hành kiểm tra, đánh giá sản phẩm đúng chuẩn quy định và đạt mục tiêu đề ra, quá trình tổ chưc thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động chính là quản lý chất lượng đào tạo. Như khái niệm đã được nêu ra ở trên, nếu kiểm soát chất lượng chỉ được thực hiện khi sản phẩm đã hoàn thành nghĩa là trong giáo dục khi người học đã tốt nghiệp. Và điều này không kiểm soát triệt để vấn đề chất lượng giáo dục của cơ sở.
Đào tạo là một quá trình do đó chất lượng giáo dục cũng nên được kiểm soát từ khi bắt đầu “đầu vào”, thực hiện, đến khi hoàn thành “đầu ra”. Để đảm bảo mục tiêu đạt được như cam kết mỗi cơ sở đào tạo nên triển khai ĐBCL bên trong của mình, kiểm soát quá trình theo những quy định, tiêu chuẩn đã xây dựng.2 Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học 2.1 Đảm bảo chất lượng đào tạo đại học trên thế giới và Việt Nam Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học có lịch sử lâu đời, xuất hiện từ thế kỷ XIII trong các hệ thống giáo dục đại học của Pháp, Italia, và Anh. Nhưng phải đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, ĐBCL mới trở thành xu hướng, được sử dụng rộng rãi trở thành công cụ duy trì và cải thiện chất lượng giáo dục đại học. Trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ có nhận thức và phương thức thực hiện khác nhau: Tại Mỹ, ĐBCL là một quá trình hoạch định có hệ thống để đánh giá một cơ sở hay một chương trình đào tạo nhằm xác định chuẩn mực giáo dục.
Điều quan trọng đối với kiểm định ở Mỹ là mục đích của kiểm định chất lượng không chỉ đảm bảo trường có trách nhiệm với chất lượng đào tạo mà còn mang lại động lực cải tiến 6 và nâng cao chất lượng chương trình đào tạo. ĐBCL bằng các chỉ số, tự đánh giá và đánh giá ngoài. Quá trình từ các yếu tố đầu vào, quá trình đào tạo và chất lượng sinh viên tốt nghiệp. Úc, chính sách, thái độ, hành động, và quy trình cần thiết để ĐBCL đang đợc duy trì và nâng cao.
Ở Anh, ĐBCL là một công cụ qua đó cơ sở giáo dục đại học khẳng định rằng các điều kiện dành cho sinh viên đã đạt được các tiêu chuẩn do nhà trường hay cơ quan có thẩm quyền đề ra. Tại Thái Lan, hệ thống ĐBCL ở các trường đại học dựa trên nguyên tắc là một mô hình “Đầu vào – Quá trình – Đầu ra” và tập trung vào dạy và học. Hệ thống ĐBCL gồm đánh giá trong và đánh giá ngoài. Mỗi quốc gia đều tự xây dựng quy định và hệ thống ĐBCL cho mình, xem như một cam kết đối với khách hàng của tại quốc gia sở tại.
Tuy nhiên, xu thế toàn cầu hoá đã xoá nhoà mọi ranh giới, người học có quyền lựa chọn môi trường học tập, ngành nghề, cơ sở đào tạo bên ngoài lãnh thổ của mình để học tập. Chính xu thế này, đòi hỏi các trường ở các quốc gia không ngừng nâng cao chất lượng, tham gia đánh giá hệ thống ĐBCL của mình theo các tiêu chuẩn quốc tế. Đảm bảo chất lượng giáo dục ở Việt Nam được triển khai từ hơn 10 năm trước, bắt đầu từ ngày giáo dục Việt Nam nhận được những sự hợp tác song phương và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, tham gia các mạng lưới hệ thống chất lượng như mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN), mạng lưới chất lượng Châu Á – Thái Bình Dương, chương trình nâng cải cách giáo dục đại học ở các nước Đông Nam Á (SEAMEO), ABET… Từ đây, hệ thống ĐBCL của Việt Nam chịu ảnh hưởng của nhiều nước trên thế giới có kinh nghiệm triển khai các hoạt động nay nhưng đồng thời cũng hình thành được cho mình một hệ thống nhất định và từng bước thúc đẩy các cơ sở đào tạo phải tiếp nhận và xây dựng chất lượng nếu muốn tồn tại và phát triển. Đảm bảo chất lượng giáo dục đào tạo đại học là một quá trình như hình 2.