Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hạnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thái Phong tại Trường Đại học Ngoại thương (Hà Nội, 2022), thuộc ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9340101).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) trong việc giới thiệu các sản phẩm, giải pháp mới dựa trên mô hình kinh doanh có tính lặp lại và mở rộng được nhằm tạo động lực tăng trưởng kinh tế (Schumpeter, 1934). Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này đối mặt với các rào cản tài chính lớn do thông tin bất cân xứng và rủi ro đạo đức (Cassar, 2004; Cumming, 2005), dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn bên ngoài ở giai đoạn sớm. Dù thị trường đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ về giá trị (thu hút hơn 900 triệu USD năm 2018 và hơn 1,2 tỷ USD năm 2021 theo Báo cáo của Văn phòng Đề án 844), các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa truyền thống hoặc dừng lại ở các phân tích định tính. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm định lượng về các tín hiệu tác động đến hoạt động huy động vốn sở hữu của DNKNST.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của DNKNST, trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng và giá trị huy động vốn của các doanh nghiệp.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến hoạt động huy động vốn của DNKNST.
    2. Nghiên cứu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hoạt động huy động vốn của các DNKNST tại Việt Nam.
    3. Đề xuất một số kiến nghị đối với các bên liên quan nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn của DNKNST.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của DNKNST Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung:
    1. Tập trung vào "kết quả" huy động vốn tài chính (khả năng huy động được vốn và giá trị vốn huy động được), không mô tả quy trình đàm phán thủ tục.
    2. Tiếp cận hình thức huy động vốn đầu tư sở hữu từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture Capital - VC), nhà đầu tư thiên thần (Business Angel - BA) và các tổ chức tăng tốc khởi nghiệp (Accelerator); không bao gồm đầu tư vốn cổ phần tư nhân (Private Equity - PE) hay vốn vay tín dụng.
    3. Tiêu chí DNKNST được khảo sát: đã đăng ký kinh doanh; chưa phát hành cổ phần công khai lần đầu (IPO); thời gian hoạt động dưới 10 năm; có yếu tố công nghệ trong mô hình kinh doanh.
    4. Tập trung vào các yếu tố bên trong doanh nghiệp (thuộc về nhà sáng lập/đội ngũ doanh nhân và đặc điểm doanh nghiệp); yếu tố môi trường (địa điểm đặt trụ sở) được tiếp cận như biến kiểm soát.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu về các doanh nghiệp và thương vụ đầu tư được thu thập trong giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 06/2021.
  • Phạm vi không gian: Các DNKNST hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, tập trung chủ yếu tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhánh nội dung chính:

  1. Nghiên cứu về doanh nghiệp khởi nghiệp và khởi nghiệp sáng tạo: Nền tảng lý thuyết khởi nghiệp gắn với đổi mới sáng tạo bắt đầu từ Schumpeter (1912, 1934). Quá trình hình thành DNKNST được tiếp cận qua các công trình của Shane (2000, 2003), McMullen và Dimov (2013), Vogel (2017), Baron và Markman (2018). Các tác giả làm rõ bản chất của startup là tìm kiếm mô hình kinh doanh lặp lại và mở rộng được (Blank, 2003, 2012, 2013; Blank & Dorf, 2012), nhấn mạnh tốc độ tăng trưởng và công nghệ (Paul Graham, 2005; Cassar, 2004; Shapira, 2008; Eric Ries, 2010). Về quản lý và rủi ro, Shepherd và cộng sự (2000), Colombo và Piva (2008), Tanha và cộng sự (2011), Salamzadeh (2015) phân tích các thách thức về nguồn lực; Thứ và cộng sự (2017) kiểm định nguồn lực VRIN (Wu, 2007) đối với hiệu quả kinh doanh; Ghi (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của mạng lưới xã hội; Schafer và Mayer (2019), Thuỷ và Hảo (2017a,b), Hiền (2020), Xen (2019) phân tích môi trường, cụm công nghệ và vườn ươm.

  2. Nghiên cứu về huy động vốn cho khởi nghiệp (Entrepreneurial Financing): Lĩnh vực này phát triển từ giai đoạn 1950–1960 và mở rộng mạnh mẽ qua các công trình của Zahra (1991, 1993), Zahra và Covin (1995), Gompers (1994), Sahlman (1990), Gompers và Lerner (2001), Bruton và cộng sự (2005, 2015). Về cơ chế giải quyết bất cân xứng thông tin và rủi ro đạo đức thông qua hợp đồng tài trợ, Hart (2001), Kaplan và Stromberg (2001), Myers và Majluf (1984) (lý thuyết trật tự phân hạng), Cochrane (2001), Kaplan và Schoar (2003) làm rõ sự phân bổ quyền kiểm soát và quyền dòng tiền. Robb và Robinson (2014) cùng Cole và cộng sự (2018) nghiên cứu cấu trúc vốn và tín dụng ngân hàng; Kortum và Lerner (2000), Gompers và Lerner (1999), Black và Gilson (1998) nghiên cứu tác động của chính sách công, sở hữu trí tuệ và thị trường chứng khoán đến đầu tư mạo hiểm.

  3. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến huy động vốn sở hữu: Tác giả tổng hợp các công trình thực nghiệm quốc tế tiêu biểu:

Tác giả (Năm) Mẫu dữ liệu Biến hoạt động huy động vốn Các yếu tố ảnh hưởng được xác định
Scherr và cộng sự (1993) 7.588 chủ doanh nghiệp nhỏ Cấu trúc vốn Vốn nhân lực, đặc điểm doanh nghiệp, chi phí tài chính
Shane và Cable (2002) 50 DNKNST Khả năng huy động vốn Vốn xã hội (quan hệ xã hội, danh tiếng)
Verheul và Thurik (2001) 2.000 doanh nhân Quy mô vốn của doanh nghiệp Giới tính của doanh nhân
Cassar (2004) 292 doanh nghiệp mới Tổng số vốn huy động được Vốn nhân lực, đặc điểm sáng lập viên, quy mô, cấu trúc tài sản
Cumming (2005) 3.083 thương vụ Hình thức huy động vốn Đặc điểm doanh nghiệp, ngành, vòng gọi vốn, loại quỹ
Witt và Brachtendorf (2006) 89 DNKNST Số vòng huy động vốn Vốn nhân lực (kinh nghiệm quản lý, ngành), rủi ro bên ngoài
Hsu (2007) 149 DNKNST Khả năng huy động vốn Vốn nhân lực (học vấn, kinh nghiệm), vốn xã hội
Bertoni và cộng sự (2011) 538 DN công nghệ Quy mô vốn Đặc điểm doanh nghiệp, đặc điểm chủ sở hữu, số bằng sáng chế
Nofsinger và Wang (2011) 1.869 DNKNST Cấu trúc vốn bên ngoài Sản phẩm mới, công nghệ mới, kinh nghiệm khởi nghiệp
Talaia và cộng sự (2016) 108 DN công nghệ Khả năng huy động vốn Vốn nhân lực (trình độ giáo dục)
Bernstein và cộng sự (2017) 4.494 nhà đầu tư Mức độ ưa thích đầu tư Nhóm sáng lập, nhà đầu tư trước, trao đổi thông tin
Ratzinger và cộng sự (2018) 4.953 DNKNST Giai đoạn đầu tư Trình độ giáo dục đại học về công nghệ/kinh doanh
Ko và McKelvie (2018) 235 DNKNST Tổng số vốn huy động được Vốn nhân lực (giáo dục, kinh nghiệm), nhà đầu tư trước đó
Honjo (2021) 1.397 DNKNST Khả năng gọi vốn, tổng vốn Vốn nhân lực (tuổi, giới tính, học vấn), vốn xã hội, vị trí, ngành

Tại Việt Nam, các nghiên cứu tập trung vào khung pháp lý (Nguyễn Viết Lợi, 2016; Phạm Hữu Hồng Thái và Hồ Thị Lan, 2018; Phan Hoàng Lan và Từ Minh Hiệu, 2017; Trần Thị Xuân Anh và Trần Thị Thu Hương, 2020); giới thiệu các kênh huy động vốn (Đặng Thị Việt Đức và Đỗ Thu Hà, 2018; Hoàng Thị Hồng, 2020; Trần Thị Nhật Anh, 2017; Lê Văn Phúc và Nguyễn Thị Vân Anh, 2019; Đỗ Anh Đức, 2021; Lưu Minh Sang, 2020; Nguyễn Quang Thu và cộng sự, 2018); khảo sát thực trạng chung (Nguyễn Thanh Huyền và Trần Hoài Nam, 2016; Nguyễn Thành Long, 2020; Báo cáo Topica, ESP Capital, Do Ventures); và phân tích định giá, nguyên nhân thất bại qua chương trình truyền hình thực tế (Lê Nguyễn Bình Minh và Nguyễn Trần Hà My, 2020; Đặng Thành Đạt và Nguyễn Thị Kim Anh, 2020).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:

  • Hệ thống hóa khung lý luận về DNKNST và huy động vốn sở hữu phù hợp với bối cảnh kinh tế mới nổi tại Việt Nam.
  • Chuyển đổi hướng tiếp cận: nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng từ lăng kính nội tại của DNKNST thay vì chỉ tập trung vào góc nhìn của nhà đầu tư.
  • Làm rõ vai trò của vốn nhân lực (đặc biệt là yếu tố học vấn, kinh nghiệm và biến số du học nước ngoài) trong môi trường xã hội Á Đông coi trọng học vấn.
  • Kiểm chứng vai trò của vốn xã hội và tín hiệu thị trường (tham gia các cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo, mô hình nhóm sáng lập) trong bối cảnh thông thường và dưới tác động của dịch bệnh Covid-19.
  • Bổ sung kiểm định định lượng quy mô trên bộ dữ liệu thực chứng thay vì các đánh giá định tính đơn lẻ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của các lý thuyết kinh tế và quản trị:

  • Lý thuyết huy động nguồn lực (Resource Mobilization Theory): Giải thích cách thức doanh nghiệp tích hợp các nguồn lực bên trong (vốn nhân lực, vốn xã hội, vốn tổ chức) để chuyển hóa thành lợi thế tiếp cận nguồn lực tài chính bên ngoài (Clough và cộng sự, 2018).
  • Lý thuyết Thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory) và Lý thuyết Tín hiệu (Signaling Theory): Giải thích tình trạng bất cân xứng thông tin giữa nhà sáng lập và nhà đầu tư trong các dự án công nghệ giai đoạn sớm. Các đặc điểm về học vấn, nhóm sáng lập, giải thưởng cuộc thi đóng vai trò là tín hiệu giảm thiểu rủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.
  • Lý thuyết Mạng lưới xã hội (Social Network Theory): Nhấn mạnh các mối quan hệ xã hội, liên kết mạng lưới giúp doanh nhân tiếp cận thông tin thị trường và kết nối với các quỹ đầu tư mạo hiểm (Shane & Cable, 2002).
  • Lý thuyết Vòng đời doanh nghiệp (Berger & Udell, 1998): Phân loại nhu cầu và nguồn tài trợ tương ứng theo các giai đoạn: hạt giống (tiền thương mại hóa, vốn tự có, FFF, BA), khởi nghiệp/tăng trưởng (VC, quỹ tăng tốc), trưởng thành và đại chúng hóa (IPO).
  • Lý thuyết Trật tự phân hạng (Pecking Order Theory - Myers & Majluf, 1984): Phân tích sự đánh đổi giữa việc pha loãng quyền kiểm soát cổ phần và chi phí sử dụng vốn bên ngoài.

Khái niệm DNKNST được tác giả chuẩn hóa dựa trên các nghiên cứu quốc tế (Steve Blank, 2003, 2013; Eric Ries, 2010; Cassar, 2004) và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Đề án 844 theo Quyết định 844/QĐ-TTg và Quyết định 188/QĐ-TTg, Nghị định 38/2018/NĐ-CP, Nghị định 34/2018/NĐ-CP, Nghị định 37/2020/NĐ-CP, Thông tư 45/2019/TT-BTC). Bảng so sánh giữa hai hình thức doanh nghiệp:

Tiêu chí Doanh nghiệp khởi nghiệp Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Tính mới Có khả năng cạnh tranh nhất định trên thị trường Sản phẩm mới / quy trình mới / phương pháp, mô hình kinh doanh mới
Quy mô Nhỏ và vừa Nhỏ / vừa / lớn
Tăng trưởng Tăng trưởng từ từ Tăng trưởng nhanh chóng
Công nghệ Không yêu cầu Dựa trên công nghệ
Thời gian Dưới 5 năm Dưới 5 năm (trong phạm vi mở rộng của mẫu nghiên cứu là dưới 10 năm)

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính:
    1. Nghiên cứu tại bàn (Desk research): Thu thập, phân tích tài liệu học thuật từ Google Scholar, ScienceDirect và Tạp chí khoa học Việt Nam trực tuyến (VJOL) để tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng mô hình sơ bộ.
    2. Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc (khảo sát định tính lần 1) để hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu chính thức và phỏng vấn sâu (sau khi có kết quả hồi quy) nhằm giải thích bản chất các mối quan hệ thực chứng. Mẫu phỏng vấn gồm 3 nhóm: chuyên gia lý thuyết, nhà đầu tư khởi nghiệp mạo hiểm và các nhà sáng lập DNKNST.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng:
    1. Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Stata để thực hiện thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan, hồi quy Logit và Probit cho các biến phụ thuộc nhị phân (khả năng huy động vốn thành công, gọi vốn trong giai đoạn Covid-19), hồi quy Tobit cho biến giá trị huy động vốn (biến liên tục bị chặn dưới tại mức 0), hồi quy Poisson/Negative Binomial cho số vòng gọi vốn, và kiểm định MANOVA đánh giá sự khác biệt giữa các nhóm ngành.
  • Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập thủ công từ nền tảng dữ liệu tài chính doanh nghiệp CrunchBase (tài khoản trả phí), kết hợp đối chiếu chéo với Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), PitchBook, LinkedIn, Facebook và các báo cáo thị trường chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về doanh nghiệp khởi nghiệp, các nguồn tài trợ khởi nghiệp và các yếu tố tác động đến kết quả huy động vốn trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam. Tác giả phân loại các luồng nghiên cứu thành ba nhóm chính: quá trình hình thành doanh nghiệp, vấn đề quản lý/sinh tồn và môi trường kinh doanh/hệ sinh thái khởi nghiệp. Phân tích tổng quan chỉ rõ sự thiếu hụt các nghiên cứu định lượng ở các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Nam Á, từ đó xác lập tính cấp thiết và định vị khoảng trống học thuật cho luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hoạt động huy động vốn và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo

Chương 2 tập trung phân tích các khái niệm cốt lõi: định nghĩa startup, các đặc trưng phân biệt (hướng đến khách hàng, tính mới của giải pháp, áp dụng công nghệ, tính lặp lại của mô hình kinh doanh, tiềm năng tăng trưởng nhanh) và hệ thống khung khổ pháp lý tại Việt Nam (Đề án 844, Luật Hỗ trợ DNVVN 2017, Nghị định 38/2018/NĐ-CP). Tác giả trình bày các lý thuyết nền tảng (Lý thuyết huy động nguồn lực, Lý thuyết thông tin bất cân xứng, Lý thuyết mạng lưới xã hội, Lý thuyết vòng đời) và luận giải cơ chế ảnh hưởng của 3 nhóm yếu tố nội tại: vốn nhân lực của nhà sáng lập (học vấn, kinh nghiệm, du học), vốn xã hội (mạng lưới quan hệ, tham gia cuộc thi khởi nghiệp) và đặc điểm doanh nghiệp (công nghệ, nhóm sáng lập, ngành nghề, độ tuổi doanh nghiệp) đến hoạt động huy động vốn sở hữu.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 thiết lập quy trình nghiên cứu khoa học qua các bước từ mô hình sơ bộ, phỏng vấn chuyên gia hoàn thiện mô hình chính thức đến kiểm định định lượng. Tác giả xây dựng các hệ giả thuyết nghiên cứu xoay quanh tác động của vốn nhân lực, vốn xã hội và đặc điểm tổ chức tới khả năng gọi vốn, giá trị vốn huy động, số vòng gọi vốn và giai đoạn gọi vốn (Series A, Series B). Đồng thời, chương này chi tiết hóa cách thức đo lường các biến số (biến phụ thuộc, biến độc lập, biến kiểm soát), quy trình thu thập dữ liệu từ CrunchBase và các cổng thông tin chính thức, cũng như các kiểm định thống kê và kỹ thuật hồi quy (Logit, Probit, Tobit, MANOVA) được xử lý trên phần mềm Stata.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 trình bày thực trạng hoạt động đầu tư khởi nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2011–2021, cung cấp thống kê mô tả mẫu dữ liệu theo ngành nghề, vị trí địa lý (Hà Nội, TP.HCM và các tỉnh khác), loại hình doanh nghiệp, giới tính nhà sáng lập, yếu tố du học và nhóm sáng lập. Tác giả trình bày chi tiết các kết quả phân tích tương quan và kết quả hồi quy:

  • Mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của DNKNST.
  • Mô hình phân tích khả năng huy động vốn trong bối cảnh đại dịch Covid-19 (chỉ ra vai trò then chốt của mô hình nhóm sáng lập và việc tham gia các cuộc thi khởi nghiệp).
  • Mô hình xác định các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị vốn huy động, số vòng huy động vốn và giá trị trung bình mỗi vòng.
  • Mô hình hồi quy về giai đoạn gọi vốn (Series A, Series B) và kết quả kiểm định MANOVA về tác động của yếu tố ngành nghề. Chương 4 kết thúc bằng phần đối thoại giữa kết quả định lượng và dữ liệu phỏng vấn sâu chuyên gia (nhà đầu tư, nhà sáng lập, chuyên gia lý thuyết), làm rõ nguyên nhân của các giả thuyết được chấp nhận hoặc bị bác bỏ.

Chương 5: Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hoạt động huy động vốn của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam

Chương 5 đánh giá triển vọng phát triển thị trường vốn cho DNKNST tại Việt Nam và đưa ra hệ thống khuyến nghị thực tiễn phân theo 3 nhóm đối tượng:

  1. Đối với DNKNST: Chú trọng xây dựng đội ngũ đồng sáng lập đa dạng kỹ năng; nâng cao vốn nhân lực và tận dụng mạng lưới liên kết quốc tế từ việc du học; tích cực tham gia các cuộc thi khởi nghiệp uy tín để tạo tín hiệu thị trường; hoàn thiện mô hình kinh doanh và minh bạch hóa thông tin quản trị.
  2. Đối với các nhà đầu tư khởi nghiệp sáng tạo: Thiết lập tiêu chí đánh giá toàn diện kết hợp giữa năng lực đội ngũ và khả năng thích ứng công nghệ; đa dạng hóa các công cụ đầu tư; tăng cường vai trò cố vấn, hỗ trợ kết nối mạng lưới cho doanh nghiệp sau đầu tư.
  3. Đối với các nhà hoạch định chính sách: Hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động của các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo (hướng dẫn cụ thể Nghị định 38/2018/NĐ-CP); phát triển các quỹ bảo lãnh tín dụng và cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox); duy trì và nâng cao chất lượng các chương trình ươm tạo, cuộc thi đổi mới sáng tạo quốc gia thuộc Đề án 844.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa tổng quan tình hình nghiên cứu về khởi nghiệp, DNKNST và hoạt động huy động vốn của DNKNST trên thế giới và tại Việt Nam, làm rõ hệ thống khái niệm và khung lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo.
  2. Xây dựng và kiểm định thành công mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của DNKNST trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển tại Việt Nam, chỉ ra mức độ tác động của các yếu tố thuộc vốn nhân lực, vốn xã hội và đặc điểm tổ chức.
  3. Bổ sung dữ liệu và kiểm chứng thực nghiệm về hoạt động huy động vốn của DNKNST trong bối cảnh đặc thù của đại dịch Covid-19, chứng minh rằng cấu trúc nhóm sáng lập (team founder) và việc tham gia các cuộc thi khởi nghiệp tạo ra tín hiệu tích cực giúp doanh nghiệp duy trì khả năng gọi vốn trong giai đoạn khủng hoảng.
  4. Phát hiện và bổ sung vào hệ thống lý thuyết yếu tố "du học nước ngoài" (kết hợp giữa vốn nhân lực chất lượng cao và vốn xã hội quốc tế) của nhà sáng lập, chứng minh yếu tố này có tác động tích cực đến khả năng gọi vốn, giá trị vốn huy động và cơ hội gọi vốn ở các vòng tiếp theo trong bối cảnh quốc gia đang phát triển.
  5. Chứng minh thực nghiệm việc tham gia các cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo tạo ra tín hiệu phân biệt rõ nét trong lăng kính đánh giá của nhà đầu tư mạo hiểm, cung cấp cơ sở khoa học cho chính sách khuyến khích các phong trào đổi mới sáng tạo.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bộ bằng chứng thực nghiệm định lượng rõ ràng về các nhân tố quyết định kết quả huy động vốn cho DNKNST tại Việt Nam, khắc phục hạn chế của các kết luận thuần túy định tính trước đây, giúp các bên liên quan ra quyết định đầu tư và gọi vốn chuẩn xác hơn.
  2. Xây dựng bộ dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa về các DNKNST và các thương vụ đầu tư tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2021, đóng vai trò là nguồn tư liệu tham khảo cho các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nguồn thứ cấp CrunchBase kết hợp các cổng thông tin công khai, chủ yếu bao phủ các doanh nghiệp tại hai đô thị lớn (Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh), chưa phản ánh toàn diện các DNKNST ở các địa phương khác.
  • Do rào cản về tính sẵn có và tính bảo mật của dữ liệu vốn tư nhân, mô hình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các yếu tố nội tại bên trong doanh nghiệp (nhà sáng lập và đặc điểm doanh nghiệp) mà chưa bao quát đầy đủ các biến số vĩ mô thuộc môi trường thể chế ngoài biến kiểm soát vị trí địa lý.
  • Luận án mới tiếp cận kết quả huy động vốn sở hữu (khả năng gọi vốn, giá trị vốn, vòng gọi vốn), chưa theo dõi toàn diện tiến trình đàm phán hợp đồng chi tiết và kết quả thoái vốn cuối cùng của các quỹ đầu tư.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi thu thập dữ liệu sang các tỉnh, thành phố khác và khảo sát thêm các kênh vốn mới (vốn vay chuyển đổi, huy động vốn cộng đồng).
  • Tích hợp thêm các biến số môi trường vĩ mô và thể chế kinh tế vào mô hình định lượng.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal studies) để theo dõi vòng đời hoàn chỉnh của DNKNST từ các vòng hạt giống, các vòng Series cho đến khi IPO hoặc thực hiện các thương vụ mua bán - sáp nhập (M&A).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết kết hợp giữa lý thuyết huy động nguồn lực và lý thuyết tín hiệu, phương pháp tiếp cận mô hình kinh tế lượng (Logit, Probit, Tobit, MANOVA) xử lý dữ liệu tài chính khởi nghiệp trên Stata.
  • Nhà sáng lập và đội ngũ quản lý DNKNST: Tham khảo các chỉ dẫn thực tế về việc thiết lập đội ngũ đồng sáng lập, định hướng nâng cao năng lực học vấn, phát triển mạng lưới liên kết quốc tế và tận dụng các cuộc thi khởi nghiệp để thu hút vốn đầu tư mạo hiểm.
  • Các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, vườn ươm khởi nghiệp: Sử dụng các tiêu chí thực chứng đã được lượng hóa để xây dựng thang đo sàng lọc dự án và tối ưu hóa danh mục đầu tư.
  • Các nhà hoạch định chính sách (Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý Đề án 844): Sử dụng kết quả nghiên cứu làm cơ sở thực tiễn để điều chỉnh các cơ chế hỗ trợ tài chính, hoàn thiện khung pháp lý về quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo và tổ chức các chương trình hỗ trợ hệ sinh thái quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát hoạt động huy động vốn theo hình thức nào và loại trừ những hình thức nào? Luận án tập trung khảo sát kết quả huy động vốn đầu tư sở hữu từ các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC), nhà đầu tư thiên thần (BA) và các tổ chức tăng tốc khởi nghiệp (Accelerator). Luận án không nghiên cứu hình thức đầu tư vốn chủ sở hữu tư nhân (Private Equity - PE) và không nghiên cứu hình thức huy động vốn vay có kỳ hạn từ ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng.

2. Tiêu chí lựa chọn mẫu doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (DNKNST) trong nghiên cứu là gì? Doanh nghiệp được đưa vào mẫu nghiên cứu phải thỏa mãn đồng thời 4 tiêu chí: (i) Đã đăng ký kinh doanh hợp pháp; (ii) Chưa thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (chưa IPO); (iii) Thời gian hoạt động tính đến thời điểm khảo sát dưới 10 năm; (iv) Có áp dụng yếu tố công nghệ trong mô hình kinh doanh.

3. Yếu tố "du học nước ngoài" của nhà sáng lập đóng vai trò như thế nào trong mô hình nghiên cứu? Luận án tiếp cận yếu tố du học nước ngoài như sự tích hợp giữa vốn nhân lực chất lượng cao và vốn xã hội quốc tế. Kết quả phân tích thực nghiệm chứng minh rằng nhà sáng lập từng du học nước ngoài có ảnh hưởng tích cực rõ rệt tới khả năng huy động vốn, giá trị vốn huy động được cũng như khả năng tiếp tục gọi vốn ở các vòng tiếp theo.

4. Nghiên cứu phát hiện những yếu tố nào tạo ra tín hiệu tích cực cho nhà đầu tư trong giai đoạn dịch Covid-19? Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, kết quả mô hình hồi quy chỉ ra rằng các doanh nghiệp có cấu trúc nhóm sáng lập (thay vì một cá nhân sáng lập đơn lẻ) và các doanh nghiệp từng tham gia các cuộc thi khởi nghiệp sáng tạo có khả năng huy động vốn tốt hơn, đóng vai trò là những tín hiệu tin cậy giúp nhà đầu tư giảm thiểu rủi ro ngoại cảnh.

5. Luận án sử dụng các phương pháp kinh tế lượng và công cụ phần mềm nào để phân tích dữ liệu định lượng? Tác giả sử dụng phần mềm Stata để thực hiện các kỹ thuật: thống kê mô tả, ma trận tương quan, mô hình hồi quy Logit và Probit (cho biến nhị phân về khả năng gọi vốn), mô hình hồi quy Tobit (cho biến liên tục bị chặn về giá trị vốn huy động) và kiểm định MANOVA (cho phân tích ảnh hưởng của yếu tố ngành nghề).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Hạnh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và hoạt động huy động vốn sở hữu trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên bộ dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2011–2021, công trình đã làm rõ mức độ tác động của vốn nhân lực, vốn xã hội (đặc biệt là biến số du học và tham gia cuộc thi khởi nghiệp) cùng đặc điểm doanh nghiệp đến kết quả gọi vốn. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống khuyến nghị trong luận án cung cấp căn cứ khoa học cho các nhà sáng lập, giới đầu tư mạo hiểm và cơ quan quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam.