CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của vốn: 1.1 Khái niệm vốn: Theo phần I Nhập môn quản trị kinh doanh, mục 1.2 Doanh nghiệp, giáo trình quản trị kinh doanh do PGS. Nguyễn Ngọc Huyền chủ biên, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân năm 2016: Doanh nghiệp là xí nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Vốn là yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu của quá trình sản xuất, kinh doanh.
Muốn tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải có vốn. Vốn được dùng để mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất như: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Vốn thường xuyên vận động và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau trong các khâu của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó có thể là tiền, máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm.khi kết thúc một vòng luân chuyển thì vốn lại trở về hình thái tiền tệ.
Với số vốn ban đầu, nó không chỉ được bảo tồn mà còn được tăng lên do hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi. Như vậy, có thể hiểu vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.2 Đặc điểm vốn: Để có thể quản lý và sử dụng hiệu quả vốn, doanh nghiệp cần phải nắm được những đặc điểm của vốn như sau: Thứ nhất, vốn biểu hiện giá trị của toàn bộ tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Nghĩa là vốn được thể hiện bằng giá trị của những tài sản có thực cho dù đó là những tài sản hữu hình (nhà 8 xưởng, máy móc, thiết bị, sản phẩm…) hay tài sản vô hình (chất xám, thông tin, nhãn hiệu, bằng phát minh, sang chế…). Thứ hai, vốn phải được vận động sinh lời.
Tiền tệ là hình thái vốn ban đầu của các doanh nghiệp nhưng chưa hẳn có tiền là có vốn. Để biến thành vốn thì tiền phải được đưa vào sản xuất kinh doanh và sinh lời. Trong quá trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn là tiền. Đồng thời vốn phải không ngừng được bảo tồn, bổ sung và phát triển sau mỗi quá trình vận động để thực hiện việc tái sản xuất giản đơn và mở rộng của doanh nghiệp.
Thứ ba, vốn được tích tụ và tập trung đến một khối lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Do đó, để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách tập trung, huy động vốn từ những nguồn cung ứng thích hợp. Thứ tư, vốn phải gắn liền với một chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí. Tuy nhiên tùy vào hình thức đầu tư mà các chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không nhưng không bao giờ có hiện tượng đồng vốn vô chủ.
Người sử dụng phải luôn có trách nhiệm với đồng vốn mà mình nắm giữ, sử dụng. Khi đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định thì nó mới là động lực để vốn được chi tiêu hợp lý. Thứ năm, vốn có giá trị về mặt thời gian, cùng một lượng vốn nhưng sẽ có giá trị khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Tức là trong quá trình huy động, sử dụng và quản lý vốn, doanh nghiệp phải xem xét đến yếu tố thời gian cuả đồng vốn do sự thay đổi của các yếu tố như: lạm phát, tiến bộ của khoa học kỹ thuật.Tại các thời điểm khác nhau sức mua của đồng vốn là khác nhau.
Thứ sáu, trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được xem là một thứ hàng hóa đặc biệt. Những người cần vốn đến thị trường huy động vốn, có nghĩa là để được sử dụng vốn, người huy động vốn phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho chủ sở hữu nguồn vốn. Như vậy, khác với hàng hóa thông thường, vốn khi “bán ra” sẽ mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một khoảng 9 thời gian nhất định. Trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm, có những chủ thể tạm thời thừa vốn và có những chủ thể khác tạm thời thiếu vốn.
Họ có thể gặp nhau trực tiếp để thương lượng, thỏa thuận hoặc có thể thông qua các trung gian tài chính để chủ thể thiếu vốn có được lượng vốn mà mình đang cần và chủ thể thừa vốn có được lợi nhuận từ đồng vốn nhàn rỗi của mình. Việc nhận thức đúng đắn về đặc điểm của vốn sẽ giúp quản lý, khai thác và sử dụng vốn một cách tốt nhất tránh tình trạng lãng phí, thua lỗ, mất mát…làm thất thoát đi vốn của doanh nghiệp.3 Vai trò của vốn: Đối với một doanh nghiệp, vốn có vai trò rất quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó vừa là cơ sở để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh lại cũng là chỉ tiêu đánh giá kết quả của các hoạt động kinh doanh đó. Bên cạnh đó vốn còn là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và xác lập vị thế của doanh nghiệp trên thương trường. Điều này càng thể hiện rõ trong cơ chế thị trường hiện nay với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị đầu tư hiện đại hóa công nghệ… tất cả những yếu tố này muốn đạt được đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng vốn đủ lớn và sử dụng vốn có hiệu quả.
Mặt khác, một doanh nghiệp muốn mở rộng phạm vi hoạt động tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh, vốn của doanh nghiệp phải sinh lời tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi nhằm đảm bảo vốn của doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Điều đó cho thấy vốn là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Nhận thức được vai trò quan trọng như vậy, doanh nghiệp cần hết sức thận trọng trong quá trình quản lý và sử dụng vốn. Bắt đầu từ công tác phân loại vốn và tìm các nguồn tài trợ cho phù hợp với yêu cầu về lượng vốn và thời gian sử dụng.
Chỉ khi làm tốt công tác này doanh nghiệp mới có thể nghĩ đến vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, mở rộng phạm vi hoạt động, tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.2 Phân loại vốn: Vỗn là toàn bộ giá trị vật chất được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ được qua thời gian sản xuất kinh doanh cũng có thể là những của cải mà thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản… Mỗi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần vốn nhưng vốn luôn là một bài toán khó đối với các nhà quản lý bởi lẽ phải lựa chọn cơ cấu vốn sao cho vừa đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo được an toàn về mặt tài chính đồng thời chi phí sử dụng vốn bình quân thấp nhất.1 Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh: Vốn của doanh nghiệp được chia thành 2 loại là vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ) Vốn cố định của doanh nghiệp: * Khái niệm: VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định hữu hình và vô hình. Đó là vốn đầu tư ứng trước vì số vốn này nếu được sử dụng có hiệu quả sẽ không mất đi, doanh nghiệp sẽ thu hồi lại được các sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ của mình. Là vốn đầu tư ứng trước cho TSCĐ nên quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ.
Ngược lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ cũng có những ảnh hưởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chyển vốn cố định. Vì vậy, để có thể hiểu chi tiết về vốn cố định trước hết ta cần tìm hểu về TSCĐ. TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh còn giá trị của nó thì được dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ đã sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất. Thông thường một tư liệu lao động được coi là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời 2 tiêu chuẩn: - Một là, có thời gian sử dụng tối thiểu thường là một năm trở lên.
11 - Hai là, TSCĐ phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Ở Việt Nam hiện 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 nay tiêu chuẩn về mặt giá trị theo TT45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/04/2013 là 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 từ 30 triệu đồng trở lên, thời gian hoạt động từ 1 năm trở lên. 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 66666666 * Đặc điểm chu chuyển vốn cố định: 6 6 6 6 6 6 6 Từ đặc điểm vận động của TSCĐ đã quyết định đến đặc điểm vận động của 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 vốn cố định, có thể khái quát qua một số nét đặc thù sau: 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 - Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh mới hoàn thành 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 một vòng chu chuyển, điều này là do đặc điểm của TSCĐ có thời gian sử dụng lâu 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 dài, trong nhiều chu kì sản xuất kinh doanh quyết định. 6 6 6 6 6 6 6 6 6 6 - Vốn cố định được luân chuyển dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất.