Luận án tiến sĩ ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp trường hợp các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại việt nam

Chuyên đề Ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trình bày khoa học, dễ hiểu, dễ áp dụng

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

243
16
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Luận án nghiên cứu ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam, trong bối cảnh mà kế hoạch thuế là một yếu tố quan trọng trong việc tối ưu hóa lợi nhuận và giá trị doanh nghiệp. Kế hoạch thuế không chỉ ảnh hưởng đến chi phí thuế mà còn tác động đến quyết định đầu tư và quản lý tài chính của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu từ 513 doanh nghiệp cho thấy rằng kế hoạch thuế có ảnh hưởng ngược chiều đến giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong nhóm doanh nghiệp không có sở hữu nhà nước. Điều này đặt ra câu hỏi về vai trò của sở hữu nhà nước trong việc điều tiết mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp.

1.1. Tầm quan trọng của kế hoạch thuế

Kế hoạch thuế là một phần không thể thiếu trong chiến lược tài chính của doanh nghiệp. Nó không chỉ giúp tối ưu hóa chi phí thuế mà còn ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán. Theo lý thuyết đại diện, sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị có thể dẫn đến những quyết định không tối ưu trong kế hoạch thuế. Việc áp dụng các chiến lược thuế hợp lý có thể tạo ra giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường.

1.2. Mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp

Nghiên cứu chỉ ra rằng kế hoạch thuế có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp, tùy thuộc vào cách thức thực hiện và bối cảnh cụ thể. Các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước thường chịu ảnh hưởng từ chính sách thuế và quản lý của nhà nước, điều này có thể dẫn đến sự khác biệt trong giá trị doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tư nhân. Kết quả cho thấy rằng mối quan hệ này cần được phân tích kỹ lưỡng để đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết.

II. Cơ sở lý thuyết

Cơ sở lý thuyết của luận án bao gồm các lý thuyết về kế hoạch thuế, sở hữu nhà nước và giá trị doanh nghiệp. Lý thuyết đại diện giải thích sự mâu thuẫn giữa cổ đông và nhà quản trị trong việc tối ưu hóa lợi nhuận và thuế. Lý thuyết nhà quản lý cho thấy rằng nhà quản trị có thể ưu tiên lợi ích cá nhân hơn là lợi ích của cổ đông, dẫn đến quyết định thuế không tối ưu. Hơn nữa, lý thuyết về bàn tay can thiệp của nhà nước chỉ ra rằng sự can thiệp của nhà nước có thể tạo ra những yếu tố điều tiết quan trọng ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.

2.1. Lý thuyết đại diện

Lý thuyết đại diện nhấn mạnh rằng trong môi trường doanh nghiệp, có sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản trị. Các nhà quản trị có thể đưa ra các quyết định không tối ưu nhằm phục vụ lợi ích cá nhân, điều này có thể ảnh hưởng đến kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng kế hoạch thuế hợp lý có thể giúp giảm thiểu sự mâu thuẫn này và tăng cường giá trị doanh nghiệp.

2.2. Lý thuyết về vai trò của sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam. Các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước thường phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt hơn về quản lý và thuế. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp này có giá trị thấp hơn so với các doanh nghiệp tư nhân do các yếu tố quản lý và chính sách thuế không linh hoạt.

III. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận án bao gồm cả phương pháp định tính và định lượng. Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của 513 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2015-2019. Phân tích hồi quy dữ liệu bảng được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp, đồng thời xem xét vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước.

3.1. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu được lựa chọn từ năm 2015 đến 2019 nhằm đảm bảo tính nhất quán và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Các biến số được đo lường bao gồm giá trị doanh nghiệp, kế hoạch thuế và mức độ sở hữu nhà nước.

3.2. Phương pháp phân tích

Luận án áp dụng phương pháp phân tích hồi quy để xác định mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp. Các mô hình hồi quy được xây dựng để kiểm tra ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp, đồng thời phân tích vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước. Phương pháp này cho phép đánh giá chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam.

IV. Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy kế hoạch thuế có ảnh hưởng ngược chiều đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam. Đặc biệt, sở hữu nhà nước có vai trò điều tiết quan trọng trong mối quan hệ này. Doanh nghiệp có sở hữu nhà nước cho thấy sự ảnh hưởng thuận chiều của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp, trong khi đó các doanh nghiệp không có sở hữu nhà nước lại cho thấy sự ảnh hưởng tiêu cực.

4.1. Ảnh hưởng của kế hoạch thuế

Nghiên cứu chỉ ra rằng kế hoạch thuế tác động tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết. Điều này có thể do các doanh nghiệp không tối ưu hóa chiến lược thuế của mình, dẫn đến việc giảm lợi nhuận và giá trị cổ phiếu. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch thuế hiệu quả để gia tăng giá trị doanh nghiệp.

4.2. Vai trò điều tiết của sở hữu nhà nước

Sở hữu nhà nước có tác động đáng kể đến mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp có sở hữu nhà nước thường phải đối mặt với nhiều quy định và yêu cầu từ chính phủ, điều này có thể tạo ra những rào cản trong việc tối ưu hóa kế hoạch thuế. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự điều tiết này có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp trong một số trường hợp, nhưng cũng có thể làm giảm giá trị trong những bối cảnh khác.

V. Kết luận và khuyến nghị

Luận án kết luận rằng kế hoạch thuế có ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam. Để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch thuế hiệu quả và chú trọng vào vai trò của sở hữu nhà nước trong quá trình này. Các khuyến nghị được đưa ra cho các nhà đầu tư, nhà quản trị và cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả của kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp.

5.1. Khuyến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng kế hoạch thuế hiệu quả, tối ưu hóa chi phí thuế và nâng cao giá trị doanh nghiệp. Việc công khai thông tin thuế và chú trọng vào vai trò của sở hữu nhà nước cũng cần được thực hiện để đảm bảo sự minh bạch và tăng cường lòng tin từ các nhà đầu tư.

5.2. Khuyến nghị cho cơ quan quản lý

Cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét lại các chính sách thuế và quy định liên quan đến doanh nghiệp phi tài chính niêm yết. Việc tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi và hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong việc tối ưu hóa kế hoạch thuế sẽ góp phần nâng cao giá trị doanh nghiệp và phát triển kinh tế chung.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 đã khẳng định đóng góp về lý thuyết, thực tiễn và đóng góp mới của đề tài Luận án. Cuối cùng, chương này đã cung cấp thông tin khái quát nội dung chính 5 chương của Luận án. 12 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH THUẾ, SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP 2.

Kế hoạch thuế 2. Khái niệm kế hoạch thuế Trong nghiên cứu “Lý thuyết về kế hoạch thuế”, Hoffman (1961) định nghĩa KHT1 là khả năng thu xếp các hoạt động tài chính theo hướng tối thiểu hóa chi phí thuế, tức là vận dụng hợp pháp các quy định của pháp luật để đạt được mục tiêu cuối cùng của một KHT hiệu quả là tránh thuế (tax avoidance). Trên cơ sở đó KHT phải đáp ứng 7 nguyên tắc, bao gồm: Linh hoạt; Phù hợp với từng đối tượng chịu thuế; Chuyên nghiệp; Liên hoàn giữa các sắc thuế; Đảm bảo lợi ích của các bên liêu quan; Ổn định và Hoàn toàn trung thực. Theo Hoffman (1961), nguyên tắc quan trọng nhất là KHT phải đảm bảo tính trung thực, tránh vi phạm pháp luật và không chấp nhận lợi ích có được từ trốn thuế.

Rego (2003) và Singhania & Singhania (2019) đưa ra cách định nghĩa tương đồng về KHT, trong đó Rego (2003) bổ sung KHT có lợi cho nhà đầu tư vì giảm chi phí thuế làm tăng thu nhập sau thuế, còn Singhania & Singhania (2019) khẳng định các hoạt động KHT làm giảm chi phí thuế trong khuôn khổ pháp luật đều gọi là tránh thuế. Scholes & Wofson (1992) cho rằng KHT là các hoạt động thực hiện các kỹ năng và kiến thức để giảm gánh nặng thuế trong khi vẫn đảm bảo tăng thu nhập sau thuế, còn gọi là tối ưu hóa thuế. Các tác giả làm rõ hơn 3 nguyên tắc của KHT là: (i) Phản ánh được tất cả các biên liên quan (cả cổ đông, nhà quản trị, doanh nghiệp, nhà cung cấp, người lao động và đối thủ cạnh tranh). Do đó, cách tiếp cận KHT theo mô hình S-A-VA-N-T của Karayan (2007) giúp các nhà quản trị đưa ra quyết định tốt hơn bởi mô hình này giúp cân bằng giữa lợi ích với chi phí thực thi KHT.

Do vậy, KHT khác với tránh thuế (tax avoidance) hoặc trốn thuế (tax evasion). Trong đó, tránh thuế phản ánh kết quả của các hoạt động thuế hợp pháp nhằm giảm số thuế phải nộp, còn trốn thuế là hoạt động không hợp pháp (Rego, 2003; Singhania & Singhania, 2019). Một số nghiên cứu cho rằng ranh giới giữa tránh thuế và trốn thuế là không rõ ràng và khó phân định (Kirchler & cộng sự, 2001; Slemrod, 2004). Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều quy định cụ thể về các hành vi trốn thuế.

Các sai phạm về trốn thuế thường là bỏ sót thông tin hoặc giấu thông tin dẫn đến giảm số thuế phải nộp (Hoffman, 1961). Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại, đề tài chưa tìm thấy một định nghĩa trong luật có liên quan về KHT. Các thuật ngữ “tránh thuế” và “trốn thuế” có được đề cập trong một số văn bản; chẳng hạn Điểm b Khoản 6 Điều 15 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 hoặc Khoản 3 Điều 13 Nghị định 20/2017/NĐ-CP về Quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Tuy nhiên, các văn bản này không đưa ra định nghĩa cụ thể thế nào là tránh thuế.

Trốn thuế là có 2 Thuế hiện (explicit tax) là các loại thuế chính phủ có quy định thu như thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế ẩn (implicit tax) là khoản giảm từ thuế trong thu nhập trước thuế, do thuế suất cao hay thấp. 14 thể cấu thành tội phạm hình sự theo quy định của Điều 200 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13, sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy, trong Luận án tác giả xác định tiếp cận khái niệm về KHT là tập hợp các hoạt động được hoạch định theo hướng khai thác hợp pháp các chính sách, cơ chế nhằm tạo ra các lợi ích về thuế, và từ đó kỳ vọng tạo ra giá trị tăng thêm cho công ty.

KHT không theo nghĩa đơn thuần của 1 bản kế hoạch (A plan). KHT có một ý nghĩa bao quát hơn, mang tầm chiến lược, có mục tiêu cuối cùng là tối ưu hoá số thuế phải nộp trong khuôn khổ của pháp luật. Tối ưu hóa không phải giảm chi phí thuế đơn thuần. Công ty theo đuổi mục tiêu giảm thiểu thuế phải nộp nhưng hệ lụy của nó có thể là làm tăng một số chi phí khác hoặc giảm thu nhập.

Vì vậy, khi xác định KHT là một phần chiến lược chung của công ty, KHT phải tuân thủ chính sách thuế và luật pháp nói chung, tránh tổn thất cho công ty để duy trì sự phát triển bền vững. Tóm lại, Luận án lựa chọn thuật ngữ KHT, không phải đồng nhất với tránh thuế. Tác giả hoàn toàn đồng thuận với quan điểm của Wilde & Wilson (2018) khi cho rằng thuật ngữ “KHT” phù hợp hơn cho rất nhiều các nghiên cứu vì phản ánh được khái niệm về các cố gắng chủ định để tạo ra lợi ích thuế hoặc đầu tư vào các hoạt động thuế một cách thận trọng, trong khi khái niệm tránh thuế chỉ là một phần/kết quả của KHT. Do đó việc sử dụng khái niệm “KHT” có thể tạo ra nhiều hướng nghiên cứu, trong khi thuật ngữ “Tránh thuế” chỉ có thể phản ảnh kết quả của KHT.

Lợi ích và chi phí của kế hoạch thuế Động cơ của KHT phụ thuộc vào thái độ của người ra quyết định đối với rủi ro. Trong trường hợp ngại rủi ro, họ sẽ chọn phương án rủi ro thấp với lợi nhuận kỳ vọng thấp và ngược lại. Điều này được lý giải dựa trên lý thuyết hữu dụng kỳ vọng (Expected Utility Theory) của Neumann & Morgenstern (1953) và lý thuyết triển vọng (Prospect Theory) của Kahneman & Tversky (1979). Theo lý thuyết hữu dụng kỳ vọng, hành vi của người nộp thuế trong điều kiện không chắc chắn là tối đa hóa lợi ích đạt được từ KHT khi đánh đổi giữa phần thuế tiết kiệm được 15 và rủi ro có thể gặp phải.

Trong nghiên cứu của King and Sheffrin (2002) đã minh chứng về việc sử dụng lý thuyết triển vọng để giải thích hành vi trốn thuế, đó là người nộp thuế sẽ lựa chọn quyết định thuế có rủi ro thấp hơn. Như vậy, khi bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến động cơ tạo quyết định thuế không thể không bàn tới các yếu tố ảnh hưởng mang tính kiểm soát KHT. Các yếu tố này ảnh hưởng gián tiếp đến KHT và có thể tạo ra lợi ích hoặc rủi ro, có thể làm phát sinh chi phí đối với KHT. Lợi ích của KHT Mục tiêu của KHT hiệu quả là tối đa hóa lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp (Schole & cộng sự, 2015).

KHT hướng đến sự tăng lên của lợi nhuận sau thuế thay vì tối thiểu hóa phần thuế phải nộp. Bởi vì, doanh nghiệp có thể theo đuổi tiết kiệm thuế đơn giản bằng cách không đầu tư vào các dự án sinh lời nhưng rủi ro hoặc việc tìm kiếm lợi ích từ tối thiểu hóa số thuế phải nộp, trong khi doanh nghiệp phải chịu các chi phí không phải là thuế phát sinh làm giảm thu nhập báo cáo (Shackelford & Shevlin, 2001). Ngoài ra, KHT có thể đem lại cho doanh nghiệp lợi ích về dòng tiền. Nghĩa là các doanh nghiệp quan tâm đến KHT đem lại dòng tiền vào, thời điểm và số tiền thuế thanh toán cũng góp phần cải tiện trạng thái dòng tiền chung.

Đối với các doanh nghiệp có lập dự báo dòng tiền, KHT cho kết quả tích cực lên dòng tiền tổng thể, đặc biệt là khoản chênh lệch vĩnh viễn càng lớn giá trị gia tăng dòng tiền của doanh nghiệp càng cao. Tuy nhiên, mối quan hệ này là ngược chiều đối với phần thuế thu nhập hoãn lại (Ayers & cộng sự, 2018; Jones & Rhoades-Catanach, 2005). Yếu tố cơ bản đầu tiên gây ảnh hưởng mang tính điều tiết đến KHT là vấn đề quản trị doanh nghiệp. Chất lượng quản trị tốt góp phần tăng lợi ích của KHT và ngược lại.

Về mặt bản chất, vấn đề này được phản ánh thông qua mối quan hệ giữa nhà quản trị (người được ủy quyền) và cổ đông (chủ sở hữu). Lợi ích của hai nhóm chủ thể này trong mỗi doanh nghiệp có đặc thù về cấu trúc sở hữu, cơ chế lương 16 thưởng cho ban điều hành, vai trò của hội đồng quản trị, đặc điểm của ban giám đốc… là khác nhau. Trong đó, tỷ lệ sở hữu cổ phần cao của người điều hành, mức lương cao và chế độ đãi ngộ đối với ban điều hành tốt tác động tích cực lên KHT. Ngược lại, các quyết định trong KHT có thể không tạo ra lợi ích cho chủ sở hữu (Wilde & Wilson, 2018).

Đánh giá của các bên liên quan khác là một yếu tố quan trọng thứ 2 cần xem xét trong mối tương quan với KHT. Mỗi chính phủ, khách hàng, nhà cung cấp, lao động, đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp có yêu cầu và mức độ quan tâm khác nhau về KHT. Các cổ đông đánh giá về vai trò của KHT trong việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp góp phần làm tăng GTDN (Ling & cộng sự, 2018). Do đó để phát huy vai trò của KHT khi thực hiện trách nhiệm xã hội đối với các đối tượng này, các thông tin liên quan đến KHT cần được cung cấp đầy đủ và minh bạch.

Chi phí của kế hoạch thuế Mặt đối lập của một KHT là các chi phí liên quan phát sinh. Các chi phí này bao gồm chi phí người đại diện (agency costs), chi phí thực hiện (implementation costs) và chi phí đầu ra (outcome costs). - Chi phí người đại diện là các chi phí phát sinh do sự khác biệt về lợi ích giữa nhà quản trị và cổ đông. Kết quả là quản trị không tốt, nhà quản trị không theo đuổi mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông thông qua KHT hiệu quả hoặc chịu chi phí vốn cổ phần từ kế hoạch này cao hơn kỳ vọng của cổ đông (Cook & cộng sự, 2017; Wilson, 2009).

- Chi phí thực hiện đề cập đến đặc điểm doanh nghiệp và môi trường hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến KHT. Nhiều nghiên cứu cho thấy đặc điểm về quy mô doanh nghiệp, đặc điểm tài chính… có thể tác động đến KHT và tạo ra các rủi ro thay vì lợi ích (Wilde & Wilson, 2018). 17 - Chi phí đầu ra phát sinh do kết luận đánh giá của cơ quan thuế, sự thay đổi quy định pháp luật, tư vấn viên, chi phí chính trị, các chi phí thị trường và chi phí danh tiếng liên quan đến hậu quả của KHT.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tên "Nghiên cứu về ảnh hưởng của kế hoạch thuế đến giá trị doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam" của tác giả Vũ Thị Anh Thư, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đoàn Thanh Hà và TS. Lê Hoàng Vinh, tập trung vào việc phân tích tác động của các chính sách thuế đến giá trị doanh nghiệp không niêm yết tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối quan hệ giữa kế hoạch thuế và giá trị doanh nghiệp, mà còn giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của chính sách thuế đến hoạt động kinh doanh.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến tài chính và quản lý doanh nghiệp, hãy tham khảo các tài liệu sau: Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về cách cơ cấu vốn ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh; và Nghiên Cứu Minh Bạch Thông Tin Tài Chính Của Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của thông tin tài chính trong việc đánh giá giá trị doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh thị trường Việt Nam.