Chương 1: Cơ sở lý luận về lập dự toán và các nhân tố ảnh hưởng tới việc lập dự toán trong các DN Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Các nghiên cứu về nhân tổ ảnh hưởng đến việc vận dung KTOT: Đã có một số nghiên cứu việc vận dụng kế toán quản trị nói chung trong các DN, trong đó công cụ lập dự toán như nghiên cứu của Joshi (2001) ở 60 DN vừa và lớn ở Ấn Độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Công cụ liên quan đến việc lập dự toán theo cách truyền thống va hé thong đánh giá thành quả được áp dụng rộng rãi, trong khi đó các công cụ KTQT hiện đại được áp dụng với tỷ lệ khá thấp và tỷ lệ áp dụng tăng lên khá chậm.
I3] El-Ebaishi và cộng sự (2003) tiến hành khảo sát thực trạng áp dụng KTQT ở 121 DN vừa và lớn ở Saudi. 15 công cụ được đưa vào khảo sát gồm phân bỗ chỉ phí bộ phận, phân bổ chỉ phí sản xuất chung, chỉ phí tiêu chuẩn, dự toán sản xuất, dự toán vốn bằng tiền, dự toán doanh thu, dự toán chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phi sản xuất chung, dự toán vốn, chu kỳ sống sản phẩm, quản trị hàng tồn kho kip thời, tính giá dựa trên hoạt động và sử dụng công cụ dự toán hồi quy. Kết quả khảo sát cho thấy các DN cho rằng các công cụ KTQT truyền thống được xem là hữu dụng và quan trọng đối với DN, các công cụ KTQT hiện đại như ABC chỉ được áp dụng trong một số DN. [22] 'Wu và cộng sự (2007) tiến hành khảo sát ở 64 DN liên doanh và 115 DN nhà nước ở Trung Quốc.
Kết quả cho thấy, các DN Trung Quốc chủ yếu sử dụng các công cụ KTQT truyền thống. Cụ thể, các nhà quản trị DN nhà nước cho rằng họ sẽ tập trung vào các công cụ KTQT truyền thống, ngược lại, các nhà quản trị DN liên doanh có xu hướng sử dụng công cụ KTQT hiện đại [54] Horngen và cộng sự (2008) trong nghiên cứu “tầm quan trọng của KTQT chỉ phí”, đã đề cập đến việc lập dự toán tông quát trong DN. Xuất phát từ chiến lược chung của DN kế toán quản trị sẽ lập dự toán tổng quát, sau đó từ dự toán tổng quát sẽ lập các dự toán cụ thể, bao gồm: (1) Dự toán hoạt động (Dự toán sản xuất, dự toán doanh thu, dự toán mua vào, dự toán giá vốn, dự toán chỉ phí hoạt động, dự toán báo cáo kết quả kinh doanh); (2) Dự toán vốn; (3) Dự toán tài chính (Dự toán dòng tiền, dự toán bảng cân đối, dự toán báo cáo lưu chuyển tiền). Nghiên cứu cũng chỉ rõ dự toán có thê lập chung cho các hoạt động hoặc dự toán riêng cho các bộ phận tùy thuộc vào nhà quản trị DN.
Bên cạnh việc xây dựng dự toán linh hoạt trong các DN sản xuất, Horngen và các cộng sự còn để cập đến dự toán linh hoạt và vai trò của dự toán linh hoạt trong các DN dịch vụ. [31] Catapan và cộng sự (2012) nghiên cứu việc áp dụng các công cụ KTQT trong 14 DNVVN kinh doanh trong ngành vật liệu xây dựng ở miền Nam Brazil. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 37,73% số công ty có đội ngũ kế toán nội bộ, trong số đó 35,72% số công ty được khảo sát sử dụng công cụ lập dự toán và 64,28% sử dụng công cụ lưu chuyển tiền tệ. [16] Kamilah Ahmad (2012) cũng tiến hành nghiên cứu “việc áp dụng trong các DNVVN trong lĩnh vực sản xuất ở Malaysia”.
Kết quả nghiên cứu từ 160 DN cho thấy tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT truyền thống cao hơn so với các công cụ KTQT hiện đại. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng, 4 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ ân dụng KTQT ở DNVVN ở Malaysia gồm: quy mô DN, mức cạnh tranh trên thị trường, sư tham gia của nhà quản lý và công nghệ sản xuất. [34] Đoàn Ngọc Phi Anh (2012), nghiên cứu “về mức độ vận dụng và các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT trong các DN Việt Nam”, bao gồm các nhân tố mang đặc tính của DN như hình thức sở hữu của DN, quy mô DN, thời gian hoạt động, định hướng thị trường, lĩnh vực hoạt động và nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh, phân cấp quản lý. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các công cụ KTQT truyền thống được áp dụng nhiều hơn các công, cụ KTQT hiện đại, cụ thể là dự toán doanh thu, dự toán lợi nhuận, dự toán sản xuất, tính giá theo phương pháp toàn bộ có tỷ lệ áp dụng khá cao so với các công cụ liên quan đến chức năng chiến lược, đánh giá thành quả.
[1] Nguyễn Phú Giang (2013), nghiên cứu về “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chỉ phí trong các DN sản xuất thép trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”, cho rằng lập dự toán cần xét theo quy mô của DN, cụ thể: (1) Đối với DN thép siêu nhỏ không cần lập dự toán; (2) Đối với DN thép quy mô nhỏ nên lập dự toán tĩnh với mô hình dự toán ấn định thông tin từ trên xuống; (3) Đối với DN có quy mô lớn lập cả dự toán tĩnh và dự toán linh hoạt và có thể áp dụng các mô hình dự toán: mô hình dự toán từ trên xuống, mô hình dự toán từ dưới lên và mô hình kết hợp. Tuy nhiên tác giả cho rằng xây dựng dự toán cần thiết cho các đơn vị kể cả DN siêu nhỏ, đồng thời xây dựng dự toán cần xuất phát từ nhu cầu quản trị DN trong việc cụ thể hóa các mục tiêu của DN. [3] Các nghiên cứu vẻ công cụ lập dự toán: Bên cạnh các nghiên cứu về việc vận dụng công cụ kế toán quản trị, cũng đã có những nghiên cứu chuyên biệt về công cụ lập dự toán. Moolchand Raghunandan và cộng sự (2012) trong bài báo '“Xem xét các khía cạnh hành vi lập dự toán, chú trọng đặc biệt vào khu vực công/dự toán Dịch vụ”, nhóm tác giả đã đưa ra nhận định rằng: Lập dự toán là một khâu của kế toán quản trị, chất lượng của dự toán không chỉ phụ thuộc vào phương pháp lập dự toán mà còn ảnh hưởng bởi hành vi của những người lập dự toán.
Việc lập dự toán gắn liền với mục tiêu của DN, chính thức hóa các mục tiêu của DN. Quá trình lập dự toán thúc đẩy sự phối hợp, hợp tác của các bộ phận với những thông, tin liên quan nhằm đạt được mục tiêu cụ thể của từng bộ phận, có 3 mô hình lập dự toán ngân sách: (1) mô hình lập dự toán từ trên xuống; (2) mô hình lập dự toán từ dưới lên; (3) mô hình thỏa thuận. Nhóm tác giả khẳng định việc lập dự toán còn là kênh kiểm soát chỉ phí và đánh giá kết quả hoạt động của từng, bộ phận thông qua việc xác định mức độ sai lệch giữa thực tế và dự toán để kiểm tra. Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ để cập đến việc lập dự toán ở lĩnh vực dịch vụ công mà chưa đề cập đến các ngành sản xuất công nghiệp.
Bên cạnh đó bài báo đề cập đến dự toán tĩnh mà chưa đề cập đến dự toán linh hoạt. [42] Nghiên cứu của Vũ Thị Kim Anh (2012), “Hoàn thiện kế toán quản tri chỉ phí vận tải tại các DN vận tải đường sắt Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, đã xác định nội dung lập định mức và dự toán là quan trọng và cần thiết trong các DN vận tải đường sắt. Theo đó mô hình lập dự toán trong các DN này là mô hình từ dưới lên (xuất phát từ đơn vị cơ sở) với các loại dự toán: Dự toán chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chỉ phí nhân công trực tiếp, dự toán chỉ phí sản xuất chung, dự toán chỉ phí quản lý DN. Tác giả cũng cho rằng việc xây dựng dự toán linh hoạt cho ngành đường sắt hiện nay là cần thiết nhằm kiểm soát chỉ phí đồng thời giúp các nhà quản trị xác định sự thay đổi các mức vận chuyền tác động đến như thế nào đến chỉ phí cũng như đánh giá được kết quả hoạt động.
và cộng sự (1977) trong nghiên cứu về “vai trò tác động của việc lập dự toán ngân sách cho các hoạt động”, cho thấy dự toán có thể là những công cụ hữu ích để đánh giá hiệu suất của các nhà quản lý và nhân viên thông qua kết quả của họ trong việc đạt được các mục tiêu của dự toán. Nói cách khác, dự toán có thể được xem là thước đo đánh giá hiệu quả công việc của các nhà quản lý và các nhân viên trong DN. và cộng sự (2011) trong nghiên cứu “Vận dụng dự toán trong ngành khách sạn Thổ Nhĩ Kỳ” cho thấy chức năng kiểm soát là một trong những lý do chính của việc lập dự toán chứ không phải là mục đích khác. [50] Trần Thị Thủy Vân (2015) trong nghiên cứu “vận dụng lập dự toán ở Việt Nam” khảo sát thực hiện tại Đà nẵng cho thấy việc áp dụng các kế hoạch dai hạn ở Việt Nam thấp hơn nhiều.
Hiện nay, dự toán hoạt động và dự toán tiền là dự toán thường xuyên được sử dụng trong các DN được khảo sát Ngược lại, dự toán đầu tư và dự toán linh hoạt dường như ít sử dụng. Có lẽ, lập dự toán trong các DN Việt Nam chủ yếu phục vụ vào hoạt động hàng ngày nhiều hơn về chiến lược, kế hoạch dài hạn. Ngoài ra, các DN có xu hướng sử dụng dự toán truyền thống hơn so với dự toán hiện đại. [51] Lê Thị Quyên (2015) nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng đến việc việc lập dự toán ở các DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” bao gồm các nhân tố mang đặc tính của DN như quy mô DN; lĩnh vực hoạt động; thời gian hoạt động và nhân tố ngữ cảnh như nhân tố cạnh tranh; phân cấp quản lý; trình độ nhân viên kế toán; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập dự toán.
Nghiên cứu cho thấy nhân tó cạnh tranh; phân cấp quản lý; trình độ nhân viên kế toán; ứng dụng công nghệ thông tin trong việc lập dự toán có tác động mạnh đến việc vận dụng công cụ lập dự toán.