CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Minh bạch thông tin tài chính là vấn đề đã được nghiên cứu của rất nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu thuộc nhiều cấp độ ở nước ngoài cũng như ở Việt Nam. Để có một cái nhìn toàn cảnh về những nghiên cứu có liên quan, luận án chọn lựa và giới thiệu một số công trình nghiên cứu có tính tiêu biểu liên quan đến vấn đề này. Qua đó sẽ rút ra khe hổng nghiên cứu đối với công trình luận án.1 CÁC NGHIÊN CỨU NƯỚC NGOÀI LIÊN QUAN ĐẾN THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH Trong những năm trước đây, nghiên cứu về TTTC và minh bạch thông tin của các công ty được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu dựa trên dữ liệu của nhiều công ty ở nhiều nước khác nhau. Nhiều nghiên cứu trước chủ yếu tập trung nhiều vào nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin của cả những CTNY và công ty chưa niêm yết.
Trong nội dung này luận án tìm hiểu và trình bày các nghiên cứu ngoài nước về thông tin tài chính và minh bạch thông tin tài chính trong mối liên hệ mật thiết với nhau.1 Nội dung các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài luận án - Những nghiên cứu trên thế giới trước đây liên quan đến TTTC và ảnh hưởng của nó đến quyết định đầu tư trên TTCK gồm những nghiên cứu như: Năm 1994, Carolyn Streuly với nghiên cứu có tên gọi “The primary objective of financial reporting: How are we doing?” (Tạp chí CPA Ohio số 53.6) đã thực thiện khảo sát với mẫu ngẫu nhiên của 1.300 các chuyên gia phân tích tài chính (CFAs) ở Mỹ. Sau 3 lần tổng hợp từ các thư khảo sát, cuộc điều tra đã nhận được kết quả trả lời từ 508 thành viên trong mẫu. Kết quả khảo sát cho thấy: 53% số người được hỏi cho biết các thông tin được công bố trong báo cáo hàng năm là đủ cơ sở để họ đưa ra các quyết định đầu tư. Các kết quả thu được về sự đánh giá cao tính hữu ích của BCTC và các nội dung thuyết minh rõ ràng của BCTC đã cho thấy tính hữu dụng của BCTC trong việc cung cấp thông tin cho các quyết định đầu tư cũng như cung cấp bằng chứng về những kết quả đạt được trong mục tiêu chính của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích để các nhà đầu tư, các chủ nợ, và những người dùng khác có thể đưa ra các quyết định hợp lý.
Ngoài ra, để có cơ sở cải thiện và tăng cường tính hữu dụng của BCTC, năm 2008, trong Báo cáo của Ủy ban Tư vấn SEC về Cải thiện BCTC dưới tác động của Ủy ban giám sát kế toán công ty đại chúng (Final Report of SEC Advisory Committee on Improvements to Financial Reporting Impacts, James Hamilton) đã đưa ra các biện pháp 6 kiểm tra nhằm tăng tính hữu dụng của BCTC và làm giảm sự phức tạp cho nhà đầu tư, người soạn lập BCTC và kiểm toán viên. Báo cáo đưa ra các nguyên tắc hướng dẫn và khuyến nghị về mục đích chính của BCTC phải giúp cho các nhà đầu tư đưa ra quyết định với các thông tin đầy đủ. Báo cáo cũng đề cập đến việc gia tăng nhận thức thực hành về đánh giá kế toán và kiểm toán với các tiêu chuẩn phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản. Một số nghiên cứu liên quan đến quan hệ giữa thông tin BCTC và các chỉ số tài chính hay giá cổ phiếu CTNY có nghiên cứu của Dimitropoulos và cộng sự (tạp chí Managerial Auditing 24.
3 (2009): P248-265) về mối quan hệ giữa thông tin BCTC và giá cổ phiếu thực hiện trên TTCK Hy Lạp với tên gọi “The value relevance of financial statements and their impact on stock prices”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng mô hình hồi quy OLS và thu thập dữ liệu của 101 CTNY trên TTCK Athens từ năm 1995 – 2004 để kiểm định cho các giả thuyết đưa ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vốn lưu động trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận có tác động tiêu cực đến thu nhập cổ phiếu, trong khi đó tỷ suất lợi nhuận và doanh thu trên tổng tài sản có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập cổ phiếu. Đồng thời, trong năm 2011, nhằm xem xét vai trò của thông tin kế toán trong đầu tư chứng khoán có nghiên cứu trong luận án Tiến sĩ của Dương Minh Châu, thực nghiệm ở TTCK Anh Quốc với tên gọi “How market mispricing affects investor behaviour, corporate investment and real earnings management: the UK evidence”.
Với việc sử dụng dữ liệu nghiên cứu qua 20 năm trên TTCK Anh quốc, tác giả đã đưa ra bằng chứng để khẳng định rằng, thông qua việc xem xét các thông tin BCTC cũng như việc định giá sai giá trị của thị trường có ảnh hưởng đáng kể đến các quyết định khác nhau của cả nhà đầu tư và các nhà quản lý. Nghiên cứu cũng đưa ra những bằng chứng và phân tích những hành vi của nhà đầu tư và nhà quản lý phản ứng trước những thay đổi của TTCK Vương quốc Anh. - Những nghiên cứu về mức độ minh bạch trong CBTT và các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin gồm những nghiên cứu như: Nghiên cứu xuyên quốc gia về minh bạch thông tin của Meek & Gray (1995) với tựa đề “Factors influencing voluntary annual report disclosures by U., and continental European multinational corporations” đề cập các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố các thông tin tự nguyện về chiến lược, thông tin tài chính và phi tài chính trên báo cáo thường niên của các công ty đa quốc gia thuộc Mỹ, Anh và lục địa Châu âu. Hay nghiên cứu của Zarzeski (1996) với tên gọi “Spontaneous harmonization effects of culture and market forces on accounting disclosure practices” trong tạp chí Accounting Horizons.
Trong đó, kết quả nghiên cứu của Zarzeski (1996) chỉ ra rằng mức độ CBTT phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua các nhân tố như doanh thu 7 xuất khẩu, đòn bẩy tài chính và quy mô công ty. Nghiên cứu của bà thực hiện trên 7 quốc gia với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn. Năm 2002, tác giả Almazan và cộng sự đã công bố công trình “Stakeholders, capital structure and transparency” (CEMFI Working Paper). Công trình này đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tính minh bạch thông tin với quyết định cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ minh bạch hóa thông tin càng cao thì các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn hơn.
Đến năm 2003, trong bài báo “Transparency, Financial Accounting Information, and Corporate Governance” ( Economic Policy Review), tác giả Robert M. Bushman và Abbie J. Smith, nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ BCTC kiểm toán và vấn đề QTCT. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp.
Trong năm 2004, nghiên cứu “Transparency, Specialization and FDI” (CESIFO working paper No. 1161) của các tác giả Assaf Razin, Efraim Sadka đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông tin kém thì dòng chảy FDI cũng suy giảm. Nhóm các đối tượng khác cũng có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên TTCK cần phải kể đến là vai trò của các công ty kiểm toán, công ty xếp hạng tín nhiệm, các quy định pháp luật đối với mức độ minh bạch thông tin của các CTNY.
Vì vậy, nhiều tác giả đã có những bài viết, công trình nghiên cứu phân tích về vấn đề này. Tiêu biểu là nhóm tác giả Bartley và cộng sự (2007) đã có bài viết “Auditor Fees, Market Microstructure, and Firm transparency” (Journal of Business Finance & Accounting), đưa ra giả thuyết là phí kiểm toán càng cao thì rủi ro gian lận BCTC càng lớn và kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết này của tác giả là đúng. Ngoài ra, nhóm tác giả Heibatollah Sami and Haiyan Zhou (2008) với công trình “Do auditing standards improve the accounting disclosure and information environment of public companies? Evidence from the emerging markets in China” (The International Journal of Accounting 43 (2008) 139-169) đã phân tích tác động của việc ban hành một loạt các chuẩn mực kiểm toán mới (năm 1996) đến môi trường thông tin của TTCK Trung Quốc. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, có sự cải thiện đáng kể về kết quả quản trị đối với các CTNY nhờ việc gia tăng số lượng thông tin được công bố công khai cho các nhà đầu tư.
- Ngoài các nghiên cứu riêng lẻ về TTTC hoặc các nghiên cứu về minh bạch thông tin nói chung, nhiều tác giả còn nghiên cứu về tính minh bạch thông tin tài chính từ phạm vi doanh nghiệp đến phạm vi quốc gia trong các nghiên cứu như: 8 Năm 2001, nghiên cứu “What Determines Corporate Transparency?” (Journal of Accounting Research, Vol 42, No 2) của Robert Bushman và cộng sự đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các CTNY dựa trên 2 nhóm nhân tố: minh bạch TTTC (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị. Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát của các CTNY trên 41 đến 46 quốc gia. Trong đó, Bushman và nhóm tác giả xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm nhân tố là: (1) Mức độ công bố TTTC, (2) Mức độ CBTT quản trị công ty, (3) Các nguyên tắc kế toán, (4) Thời gian công bố BCTC, (5) Chất lượng kiểm toán các BCTC được công bố. Qua công trình nghiên cứu này, Bushman và nhóm tác giả kết luận rằng: minh bạch trong QTCT liên quan mật thiết với cơ chế pháp lý, trong khi đó minh bạch TTTC liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho rằng minh bạch TTTC có liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Cụ thể, công ty có quy mô lớn thì mức độ minh bạch TTTC cao hơn công ty nhỏ. Ngược lại, mức độ minh bạch trong QTCT không liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ dừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân tố liên quan đến tính minh bạch thông tin và trình bày các thước đo để đo lường tính minh bạch thông tin mà chưa đưa ra được mối tương quan giữa các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin.