Chương 1: Giới thiệu tổng quan Nội dung chương này trình bày lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cần đạt được và câu hỏi nghiên cứu cần trả lời. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và đóng góp của nghiên cứu cũng được trình bày. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung chương này trình bày về lý thuyết TTBCX và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến sự tác động của đặc điểm HĐQT đến TTBCX. Chương này sẽ đánh giá các ưu điểm và hạn chế của các công trình nghiên cứu trước, từ đó chỉ ra các khoảng trống nghiên 10 cứu mà luận án này có thể hoàn thiện trong bối cảnh ở Việt Nam.
Ngoài ra, chương này cũng trình bày cách thức xây dựng khung lý thuyết về mối liên hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX, từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này trình bày các phương pháp đo lường TTBCX của các công ty niêm yết trên HSX, cách thức xây dựng khung nghiên cứu thực nghiệm, và phát triển giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX. Ngoài ra, phương pháp chọn mẫu, phương pháp đo lường các biến nghiên cứu, và phương pháp phân tích dữ liệu cũng được trình bày trong chương này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Nội dung chương này sẽ trình bày kết quả đo lường TTBCX của các công ty niêm yết trên HSX được áp dụng theo các mô hình khác nhau, từ đó chỉ ra mô hình đo lường TTBCX phù hợp có thể được áp dụng trong bối cảnh ở Việt Nam.
Ngoài ra, nội dung chương này cũng trình bày kết quả ước lượng về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX. Phần thảo luận kết quả nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trước tiên, nội dung chương này sẽ tóm tắt lại các điểm chính của nghiên cứu. Tiếp theo, dựa trên kết quả nghiên cứu, các hàm ý chính sách hướng đến các đối tượng liên quan sẽ được trình bày.
Sau cùng, nội dung chương này chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Thông tin bất cân xứng 2.1 Khái niệm Thông tin bất cân xứng (TTBCX) mô tả hiện tượng mà các chủ thể khác nhau sở hữu các thông tin khác nhau, hoặc các chủ thể tiếp nhận thông tin cả về chất và lượng đều khác nhau (Watts và Zimmerman, 1986). Tổng quát hơn, theo Arnold (2011), TTBCX là thông tin đặc thù liên quan đến giá trị của một loại hàng hóa được giao dịch, và tồn tại một nhóm đối tượng cụ thể có thể tiếp cận được thông tin này trong khi nhóm đối tượng khác thì không.2 Phân loại Căn cứ vào vấn đề phát sinh, Hillier (1997) phân loại TTBCX thành các dạng được trình bày dưới đây như sau: TTBCX do vấn đề lựa chọn. Người sử dụng hàng hóa hay dịch vụ sẽ không có nhiều thông tin liên quan so với người cung cấp.
Do đó, người sử dụng có thể phải nhận lấy những hàng hóa hay dịch vụ kém hoặc không đúng chất lượng như kỳ vọng ban đầu từ người cung cấp. Vấn đề này còn gọi là vấn đề lựa chọn ngược xảy ra trước thời điểm giao dịch. TTBCX do vấn đề che đậy hành vi. Trong mối quan hệ ràng buộc với nhau, một đối tượng có thể thay đổi hành vi so với cam kết ban đầu đối với chủ thể.
Rủi ro này tồn tại do chủ thể thiếu thông tin để quan sát những thay đổi trong hành vi của đối tượng có mối quan hệ ràng buộc với chủ thể. Vấn đề này còn được gọi là rủi ro đạo đức. TTBCX do vấn đề đánh giá hiện trạng. Hai đối tượng cùng nhìn vào một vấn đề phát sinh.
Tuy nhiên do chênh lệch về thông tin cũng như hiểu biết mà sẽ có một đối tượng nắm rõ vấn đề đó hơn và có thể đối tượng đó sẽ không thật lòng chia sẻ hoặc làm sai lệch thông tin cho đối tượng khác. Đối tượng muốn đánh giá đúng bản chất của hiện trạng có thể phải tốn kém nhiều chi phí. TTBCX do vấn đề người đại diện. Vấn đề người đại diện tồn tại khi xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người quản lý.
Người quản lý có nhiều thông tin về hoạt động của công ty hơn so với người sở hữu và họ sẽ sử dụng thông tin này để tư lợi cá nhân ứng với những tổn thất mà người sở hữu phải gánh chịu. Vấn đề người đại diện còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa chính trị gia và cử tri, giữa luật sư và thân chủ, hay giữa bác sĩ và bệnh nhân.3 Tác động TTBCX biểu hiện qua hình thức che đậy thông tin (lựa chọn ngược) và che đậy hành vi (rủi ro đạo đức), do đó TTBCX có thể tác động đến doanh nghiệp, tác động đến từng thị trường riêng biệt và tác động đến nền kinh tế.1 Tác động đến doanh nghiệp TTBCX có thể tác động đến các quyết định tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận. Quyết định đầu tư: Ảnh hưởng đầu tiên của TTBCX đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp được biểu hiện qua vấn đề che đậy thông tin. Doanh nghiệp có thể mua tài sản không đúng như kỳ vọng ban đầu.
Ảnh hưởng tiếp theo được biểu hiện qua vấn đề che đậy hành vi, hay rủi ro đạo đức. Khi được hưởng nhiều đặc quyền và đặc lợi, người đại diện công ty có thể đầu tư quá mức thông qua dòng tiền dôi dư từ đó chiếm đoạt dòng tiền dôi dư này (Jensen, 1986), hoặc đầu tư dưới chuẩn để tránh áp lực trả nợ (Jensen và Meckling, 1976; Myers, 1977). Quyết định nguồn vốn: Xét trên thị trường tín dụng, do thiếu thông tin về doanh nghiệp, người cho vay có thể áp đặt lãi suất vay như nhau áp dụng cho cả doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu (Mishkin, 1990; Stiglitz và Weiss, 1981). Kết quả là doanh nghiệp tốt có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn vay vì phải chịu chung mức lãi suất cao tương đồng với doanh nghiệp xấu.
Ngoài ra, xét trên thị trường chứng khoán, do hạn chế thông tin nên nhà đầu tư khó phân biệt doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu để quyết định đầu tư. Chính vì vậy, một khi mức độ TTBCX nghiêm trọng, doanh nghiệp tốt sẽ gặp khó khăn trong việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Quyết định phân phối lợi nhuận: Phân phối lợi nhuận được thể hiện qua hình thức chi trả cổ tức của công ty và có thể chịu sự tác động của TTBCX thông qua hai hình thức khác nhau. Hình thức thứ nhất theo quan điểm phát tín hiệu của John và Williams (1985), Miller và Rock (1985).
Các tác giả cho rằng, những công ty chi trả cổ tức cao nhằm phát tín hiệu cho cổ đông biết về dòng tiền hoạt động tốt của công ty. Tuy nhiên, việc phát tín hiệu ở đây với mục đích che đậy hành vi đầu tư dưới chuẩn của công ty. Do đó, công ty có TTBCX cao có khả năng chi trả tỷ lệ cổ tức cao. Trong khi đó, hình thức thứ hai theo quan điểm trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984).
Theo các tác giả, chính sách chi trả cổ tức có thể được sử dụng để kiểm soát vấn đề đầu tư dưới chuẩn bắt nguồn từ TTBCX. Do đó, khi TTBCX cao mức chi trả cổ tức được điều chỉnh giảm.2 Tác động đến thị trường Các thị trường chịu sự tác động của TTBCX bao gồm: (i) thị trường tài chính, doanh nghiệp tốt có khả năng khó huy động vốn vay do lãi suất vay cao áp dụng chung cho cả doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu (Stiglitz và Weiss, 1981); (ii) thị trường hàng hóa, sản phẩm tốt bị sản phẩm xấu đánh bật ra khỏi thị trường (Akerlof, 1970); (iii) thị trường lao động, người lao động có năng lực cao có thể nhận mức lương chi trả bằng với người lao động có năng lực thấp (Spence, 1973); và (iv) thị trường bảo hiểm, công ty bảo hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng có nhiều rủi ro về sức khỏe hay mức phí bảo hiểm được áp dụng chung cho các khách hàng có rủi ro cao và thấp về sức khỏe. Kết quả là, thị trường đã thất bại, hoạt động không hiệu quả, và những đối tượng thực sự có nhu cầu giao dịch dần rời bỏ thị trường.3 Tác động đến nền kinh tế TTBCX có thể tác động đến nền kinh tế và gây ra suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Mishkin (1990) đã chỉ ra những cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn 1857-1941 là do TTBCX trong các mối quan hệ vay vốn giữa chủ nợ và người đi vay và trong các thương vụ bê bối của các công ty tài chính.
Theo tác giả, TTBCX xảy ra trước những cú sốc suy giảm giá trị tài sản, lãi suất gia tăng và khủng hoảng ngân hàng. Ngoài ra, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ giai đoạn cuối năm 2007 chính là do TTBCX phát sinh trong mối quan hệ giao dịch giữa các đối tượng đi vay, tổ chức cấp tín dụng, tổ chức quản lý và định giá tài sản, chất lượng nguồn tài sản thế chấp (tài sản chứng khoán hóa) và nhà đầu tư với nhau (Ashcraft và Schuermann, 2008). Tính nghiêm trọng của TTBCX và kém minh bạch trong cơ chế giám sát các quá trình chứng khoán hóa các nguồn tài sản thế chấp đã làm cho bong bóng giá tài sản đổ vỡ ở Mỹ và lan rộng ra phạm vi toàn cầu. Kết quả là, nền kinh tế bị đóng băng, trì trệ trong nhiều năm liền không những ở Mỹ mà lan rộng ra sang các quốc gia khác.
Có thể nhận thấy TTBCX đa phần ảnh hưởng xấu đến các hoạt động giao dịch. Tuy nhiên, trong phạm vi nhất định, TTBCX cũng có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, một đối tượng với hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực nghề nghiệp có thể giúp cho một đối tượng khác gia tăng tri thức mà ban đầu không thuộc phạm vi hiểu biết của họ. Ví dụ, bác sỹ có thể giúp cho bệnh nhân hiểu cách phòng bệnh và cách chữa bệnh thường gặp mà trước đây người bệnh không hề biết rõ.