139 mối quan hệ giữa đặc điểm hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng của các cty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tphcm luận án tiến sĩ tcnh 2023

Luận án tiến sĩ nghiên cứu 139 mối quan hệ giữa đặc điểm hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng của các cty niêm yết trên, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Tài Chính Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

288
12
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN

1.1. Lý do nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Đóng góp của nghiên cứu

1.8. Cấu trúc của nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Thông tin bất cân xứng

2.2. Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán

2.3. Phương pháp đo lường

2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thông tin bất cân xứng

2.5. Tổng quan các nghiên cứu

2.5.1. Nghiên cứu về đo lường thông tin bất cân xứng

2.5.2. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm Hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng

2.5.3. Thảo luận các khoảng trống nghiên cứu có thể được bổ khuyết ở Việt Nam

2.6. Khung lý thuyết về đặc điểm của Hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng

2.6.1. Vai trò của Hội đồng quản trị

2.6.2. Các lý thuyết về Quản trị công ty

2.6.3. Khung phân tích lý thuyết

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình đo lường thông tin bất cân xứng

3.1.1. Mô hình Glosten và Harris (1988)

3.1.2. Mô hình George, Kaul và Nimalendran (1991) theo biến chỉ báo

3.1.3. Mô hình George, Kaul và Nimalendran (1991) theo hiệp phương sai

3.1.4. Mô hình Kim và Ogden (1996)

3.2. Lựa chọn mô hình đo lường thông tin bất cân xứng phù hợp

3.3. Khung nghiên cứu thực nghiệm

3.4. Giả thuyết nghiên cứu

3.4.1. Quy mô Hội đồng quản trị

3.4.2. Thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành

3.4.3. Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị

3.4.4. Trình độ học vấn của Hội đồng quản trị

3.4.5. Quyền kiêm nhiệm

3.4.6. Tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của Hội đồng quản trị

3.5. Phương pháp nghiên cứu

3.5.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

3.5.2. Phương pháp đo lường biến nghiên cứu

3.5.3. Phương pháp phân tích dữ liệu

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đo lường thông tin bất cân xứng

4.1.1. Mức độ thông tin bất cân xứng

4.1.2. Mức độ thông tin bất cân xứng đối với mỗi cổ phiếu

4.2. Đặc điểm Hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng

4.2.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu

4.2.2. Kết quả nghiên cứu

4.2.3. Kiểm định nội sinh

4.3. Thảo luận kết quả

4.3.1. Đo lường thông tin bất cân xứng

4.3.2. Mối quan hệ giữa đặc điểm Hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Các điểm chính của nghiên cứu

5.1.1. Đo lường thông tin bất cân xứng

5.1.2. Đặc điểm Hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng

5.2. Hàm ý chính sách

5.2.1. Các nhà hoạch định chính sách

5.2.2. Các công ty niêm yết

5.2.3. Các nhà đầu tư chứng khoán

5.3. Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.3.1. Giới hạn trong nghiên cứu

5.3.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán, vấn đề thông tin bất cân xứng (TTBCX) trở thành một chủ đề nóng hổi trong lĩnh vực quản trị công ty. Tại Việt Nam, các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM đã phải đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến TTBCX, đặc biệt là trong việc công bố thông tin. Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm của Hội đồng quản trị (HĐQT) và TTBCX. Theo nghiên cứu, thông tin bất cân xứng của các công ty niêm yết giai đoạn 2009-2015 có xu hướng gia tăng, với mức độ TTBCX đạt 52.3%. Kết quả cho thấy rằng quy mô HĐQT có tác động tích cực đến TTBCX, trong khi tính độc lập và trình độ học vấn của các thành viên HĐQT lại có tác động ngược chiều, đặc biệt ở các công ty không có vốn Nhà nước. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của HĐQT trong việc cải thiện tính minh bạch thông tin.

II. Cơ sở lý thuyết

Khung lý thuyết của nghiên cứu tập trung vào hai yếu tố chính: thông tin bất cân xứng và các đặc điểm của Hội đồng quản trị. TTBCX được định nghĩa là tình trạng mà một bên trong giao dịch có nhiều thông tin hơn bên còn lại, dẫn đến sự không công bằng trong quyết định đầu tư. Các lý thuyết về quản trị công ty đã chỉ ra rằng HĐQT có trách nhiệm quan trọng trong việc giám sát và đảm bảo tính minh bạch trong công bố thông tin. Hơn nữa, nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, và trình độ học vấn của các thành viên có thể ảnh hưởng đến TTBCX. Các mô hình đo lường TTBCX đã được áp dụng để đánh giá mức độ TTBCX trong các công ty niêm yết, từ đó cung cấp cơ sở cho việc phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm của HĐQT và TTBCX.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để đo lường TTBCX và phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm của HĐQT và TTBCX. Các mô hình như Glosten và Harris (1988), George, Kaul và Nimalendran (1991) đã được áp dụng để ước lượng TTBCX. Kết quả cho thấy rằng mô hình George, Kaul và Nimalendran (1991) là mô hình phù hợp nhất cho bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu cũng đã kiểm tra các biến độc lập như quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, và trình độ học vấn để phân tích tác động của chúng đến TTBCX. Phương pháp nghiên cứu này không chỉ giúp đánh giá hiệu quả của các chính sách hiện hành mà còn cung cấp thông tin quý báu cho các nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng HĐQT có ảnh hưởng lớn đến mức độ TTBCX của các công ty niêm yết. Cụ thể, quy mô HĐQT có tác động tích cực đến TTBCX, trong khi tính độc lập và trình độ học vấn của các thành viên HĐQT lại có tác động tiêu cực. Đặc biệt, ở các công ty không có vốn Nhà nước, sự độc lập của HĐQT càng trở nên quan trọng trong việc hạn chế TTBCX. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một ngưỡng nhất định về tỷ lệ sở hữu cổ phiếu của HĐQT, tại đó tác động đến TTBCX sẽ thay đổi. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập một HĐQT hiệu quả nhằm nâng cao tính minh bạch và giảm thiểu rủi ro thông tin trong môi trường đầu tư.

V. Kết luận và hàm ý chính sách

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX là rất quan trọng trong việc nâng cao tính minh bạch thông tin tại các công ty niêm yết. Các nhà hoạch định chính sách cần chú trọng đến việc cải thiện cấu trúc và chức năng của HĐQT, đồng thời khuyến khích các công ty công bố thông tin một cách minh bạch hơn. Việc này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư mà còn góp phần nâng cao uy tín của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về quản trị công ty và thông tin trên thị trường chứng khoán.

23/12/2024
139 mối quan hệ giữa đặc điểm hội đồng quản trị và thông tin bất cân xứng của các cty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tphcm luận án tiến sĩ tcnh 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu tổng quan Nội dung chương này trình bày lý do thực hiện nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu cần đạt được và câu hỏi nghiên cứu cần trả lời. Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, và đóng góp của nghiên cứu cũng được trình bày. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nội dung chương này trình bày về lý thuyết TTBCX và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến sự tác động của đặc điểm HĐQT đến TTBCX. Chương này sẽ đánh giá các ưu điểm và hạn chế của các công trình nghiên cứu trước, từ đó chỉ ra các khoảng trống nghiên 10 cứu mà luận án này có thể hoàn thiện trong bối cảnh ở Việt Nam.

Ngoài ra, chương này cũng trình bày cách thức xây dựng khung lý thuyết về mối liên hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX, từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Nội dung chương này trình bày các phương pháp đo lường TTBCX của các công ty niêm yết trên HSX, cách thức xây dựng khung nghiên cứu thực nghiệm, và phát triển giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX. Ngoài ra, phương pháp chọn mẫu, phương pháp đo lường các biến nghiên cứu, và phương pháp phân tích dữ liệu cũng được trình bày trong chương này. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Nội dung chương này sẽ trình bày kết quả đo lường TTBCX của các công ty niêm yết trên HSX được áp dụng theo các mô hình khác nhau, từ đó chỉ ra mô hình đo lường TTBCX phù hợp có thể được áp dụng trong bối cảnh ở Việt Nam.

Ngoài ra, nội dung chương này cũng trình bày kết quả ước lượng về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và TTBCX. Phần thảo luận kết quả nghiên cứu cũng được trình bày trong chương này. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Trước tiên, nội dung chương này sẽ tóm tắt lại các điểm chính của nghiên cứu. Tiếp theo, dựa trên kết quả nghiên cứu, các hàm ý chính sách hướng đến các đối tượng liên quan sẽ được trình bày.

Sau cùng, nội dung chương này chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu từ đó đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. 11 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Thông tin bất cân xứng 2.1 Khái niệm Thông tin bất cân xứng (TTBCX) mô tả hiện tượng mà các chủ thể khác nhau sở hữu các thông tin khác nhau, hoặc các chủ thể tiếp nhận thông tin cả về chất và lượng đều khác nhau (Watts và Zimmerman, 1986). Tổng quát hơn, theo Arnold (2011), TTBCX là thông tin đặc thù liên quan đến giá trị của một loại hàng hóa được giao dịch, và tồn tại một nhóm đối tượng cụ thể có thể tiếp cận được thông tin này trong khi nhóm đối tượng khác thì không.2 Phân loại Căn cứ vào vấn đề phát sinh, Hillier (1997) phân loại TTBCX thành các dạng được trình bày dưới đây như sau: TTBCX do vấn đề lựa chọn. Người sử dụng hàng hóa hay dịch vụ sẽ không có nhiều thông tin liên quan so với người cung cấp.

Do đó, người sử dụng có thể phải nhận lấy những hàng hóa hay dịch vụ kém hoặc không đúng chất lượng như kỳ vọng ban đầu từ người cung cấp. Vấn đề này còn gọi là vấn đề lựa chọn ngược xảy ra trước thời điểm giao dịch. TTBCX do vấn đề che đậy hành vi. Trong mối quan hệ ràng buộc với nhau, một đối tượng có thể thay đổi hành vi so với cam kết ban đầu đối với chủ thể.

Rủi ro này tồn tại do chủ thể thiếu thông tin để quan sát những thay đổi trong hành vi của đối tượng có mối quan hệ ràng buộc với chủ thể. Vấn đề này còn được gọi là rủi ro đạo đức. TTBCX do vấn đề đánh giá hiện trạng. Hai đối tượng cùng nhìn vào một vấn đề phát sinh.

Tuy nhiên do chênh lệch về thông tin cũng như hiểu biết mà sẽ có một đối tượng nắm rõ vấn đề đó hơn và có thể đối tượng đó sẽ không thật lòng chia sẻ hoặc làm sai lệch thông tin cho đối tượng khác. Đối tượng muốn đánh giá đúng bản chất của hiện trạng có thể phải tốn kém nhiều chi phí. TTBCX do vấn đề người đại diện. Vấn đề người đại diện tồn tại khi xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người quản lý.

Người quản lý có nhiều thông tin về hoạt động của công ty hơn so với người sở hữu và họ sẽ sử dụng thông tin này để tư lợi cá nhân ứng với những tổn thất mà người sở hữu phải gánh chịu. Vấn đề người đại diện còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa chính trị gia và cử tri, giữa luật sư và thân chủ, hay giữa bác sĩ và bệnh nhân.3 Tác động TTBCX biểu hiện qua hình thức che đậy thông tin (lựa chọn ngược) và che đậy hành vi (rủi ro đạo đức), do đó TTBCX có thể tác động đến doanh nghiệp, tác động đến từng thị trường riêng biệt và tác động đến nền kinh tế.1 Tác động đến doanh nghiệp TTBCX có thể tác động đến các quyết định tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyết định phân phối lợi nhuận. Quyết định đầu tư: Ảnh hưởng đầu tiên của TTBCX đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp được biểu hiện qua vấn đề che đậy thông tin. Doanh nghiệp có thể mua tài sản không đúng như kỳ vọng ban đầu.

Ảnh hưởng tiếp theo được biểu hiện qua vấn đề che đậy hành vi, hay rủi ro đạo đức. Khi được hưởng nhiều đặc quyền và đặc lợi, người đại diện công ty có thể đầu tư quá mức thông qua dòng tiền dôi dư từ đó chiếm đoạt dòng tiền dôi dư này (Jensen, 1986), hoặc đầu tư dưới chuẩn để tránh áp lực trả nợ (Jensen và Meckling, 1976; Myers, 1977). Quyết định nguồn vốn: Xét trên thị trường tín dụng, do thiếu thông tin về doanh nghiệp, người cho vay có thể áp đặt lãi suất vay như nhau áp dụng cho cả doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu (Mishkin, 1990; Stiglitz và Weiss, 1981). Kết quả là doanh nghiệp tốt có thể gặp khó khăn trong việc huy động vốn vay vì phải chịu chung mức lãi suất cao tương đồng với doanh nghiệp xấu.

Ngoài ra, xét trên thị trường chứng khoán, do hạn chế thông tin nên nhà đầu tư khó phân biệt doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu để quyết định đầu tư. Chính vì vậy, một khi mức độ TTBCX nghiêm trọng, doanh nghiệp tốt sẽ gặp khó khăn trong việc phát hành cổ phiếu để huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Quyết định phân phối lợi nhuận: Phân phối lợi nhuận được thể hiện qua hình thức chi trả cổ tức của công ty và có thể chịu sự tác động của TTBCX thông qua hai hình thức khác nhau. Hình thức thứ nhất theo quan điểm phát tín hiệu của John và Williams (1985), Miller và Rock (1985).

Các tác giả cho rằng, những công ty chi trả cổ tức cao nhằm phát tín hiệu cho cổ đông biết về dòng tiền hoạt động tốt của công ty. Tuy nhiên, việc phát tín hiệu ở đây với mục đích che đậy hành vi đầu tư dưới chuẩn của công ty. Do đó, công ty có TTBCX cao có khả năng chi trả tỷ lệ cổ tức cao. Trong khi đó, hình thức thứ hai theo quan điểm trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984).

Theo các tác giả, chính sách chi trả cổ tức có thể được sử dụng để kiểm soát vấn đề đầu tư dưới chuẩn bắt nguồn từ TTBCX. Do đó, khi TTBCX cao mức chi trả cổ tức được điều chỉnh giảm.2 Tác động đến thị trường Các thị trường chịu sự tác động của TTBCX bao gồm: (i) thị trường tài chính, doanh nghiệp tốt có khả năng khó huy động vốn vay do lãi suất vay cao áp dụng chung cho cả doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu (Stiglitz và Weiss, 1981); (ii) thị trường hàng hóa, sản phẩm tốt bị sản phẩm xấu đánh bật ra khỏi thị trường (Akerlof, 1970); (iii) thị trường lao động, người lao động có năng lực cao có thể nhận mức lương chi trả bằng với người lao động có năng lực thấp (Spence, 1973); và (iv) thị trường bảo hiểm, công ty bảo hiểm có thể cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho khách hàng có nhiều rủi ro về sức khỏe hay mức phí bảo hiểm được áp dụng chung cho các khách hàng có rủi ro cao và thấp về sức khỏe. Kết quả là, thị trường đã thất bại, hoạt động không hiệu quả, và những đối tượng thực sự có nhu cầu giao dịch dần rời bỏ thị trường.3 Tác động đến nền kinh tế TTBCX có thể tác động đến nền kinh tế và gây ra suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Mishkin (1990) đã chỉ ra những cuộc khủng hoảng kinh tế trong giai đoạn 1857-1941 là do TTBCX trong các mối quan hệ vay vốn giữa chủ nợ và người đi vay và trong các thương vụ bê bối của các công ty tài chính.

Theo tác giả, TTBCX xảy ra trước những cú sốc suy giảm giá trị tài sản, lãi suất gia tăng và khủng hoảng ngân hàng. Ngoài ra, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt đầu từ giai đoạn cuối năm 2007 chính là do TTBCX phát sinh trong mối quan hệ giao dịch giữa các đối tượng đi vay, tổ chức cấp tín dụng, tổ chức quản lý và định giá tài sản, chất lượng nguồn tài sản thế chấp (tài sản chứng khoán hóa) và nhà đầu tư với nhau (Ashcraft và Schuermann, 2008). Tính nghiêm trọng của TTBCX và kém minh bạch trong cơ chế giám sát các quá trình chứng khoán hóa các nguồn tài sản thế chấp đã làm cho bong bóng giá tài sản đổ vỡ ở Mỹ và lan rộng ra phạm vi toàn cầu. Kết quả là, nền kinh tế bị đóng băng, trì trệ trong nhiều năm liền không những ở Mỹ mà lan rộng ra sang các quốc gia khác.

Có thể nhận thấy TTBCX đa phần ảnh hưởng xấu đến các hoạt động giao dịch. Tuy nhiên, trong phạm vi nhất định, TTBCX cũng có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế. Cụ thể, một đối tượng với hiểu biết chuyên sâu về lĩnh vực nghề nghiệp có thể giúp cho một đối tượng khác gia tăng tri thức mà ban đầu không thuộc phạm vi hiểu biết của họ. Ví dụ, bác sỹ có thể giúp cho bệnh nhân hiểu cách phòng bệnh và cách chữa bệnh thường gặp mà trước đây người bệnh không hề biết rõ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa Đặc Điểm Hội Đồng Quản Trị và Thông Tin Bất Cân Xứng tại Các Công Ty Niêm Yết TPHCM" của tác giả Phan Bùi Gia Thủy, dưới sự hướng dẫn của TS. Ngô Vi Trọng và TS. Nguyễn Trần Phúc, tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa các đặc điểm của hội đồng quản trị và tình trạng thông tin bất cân xứng trong các công ty niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP.HCM. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của hội đồng quản trị trong việc giảm thiểu thông tin bất cân xứng mà còn giúp các nhà đầu tư và các bên liên quan hiểu rõ hơn về cấu trúc quản trị và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích mối liên hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh, hoặc bài viết Nghiên Cứu Minh Bạch Thông Tin Tài Chính Của Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam, cung cấp cái nhìn về sự minh bạch trong thông tin tài chính của các công ty niêm yết. Thêm vào đó, bài viết Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa Công Bố Thông Tin Phát Triển Bền Vững và Hiệu Quả Tài Chính Của Doanh Nghiệp Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích để tìm hiểu thêm về vai trò của thông tin trong việc nâng cao hiệu quả tài chính. Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quan hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị và thông tin doanh nghiệp.