Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa công bố thông tin phát triển bền vững và hiệu quả tài chính Chương 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị 5 uan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử và sự phát triển của Công bố thông tin phát triển bền vững Công bố thông tin phát triển bền vững (CBTT PTBV) hiện đã trở thành thông lệ quen thuộc giữa các công ty trên toàn thế giới và nó trở thành một yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp. Việc mở rộng công bố thông tin về tính bền vững là do sự gia tăng lợi ích của các bên liên quan tới hoạt động môi trƣờng, xã hội và quản trị của các công ty. Áp lực của các bên liên quan này thúc đẩy các công ty vƣợt ra khỏi báo cáo tài chính hàng năm và tiết lộ thông tin về môi trƣờng, xã hội và quản trị doanh nghiệp qua các báo cáo riêng hoặc đƣợc tích hợp cùng báo cáo tài chính.
Từ góc độ lịch sử, báo cáo phát triển bền vững đã trải qua bốn giai đoạn nhƣ hình 1.1 sau đây: Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn 3 Giai đoạn 4 Thập Báo cáo Thập Thập Báo cáo Báo cáo Báo cáo niên xã hội niên niên Phát triển 2010 1950 1980 môi trƣờng tích hợp 1990 bền vững Hình 1. Lịch sử và phát triển của công bố thông tin phát triển bền vững Giai đoạn 1: Báo cáo Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) đƣợc chính thức định hình lần đầu vào năm 1953, khi H. Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Bowen & Johnson, 1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp gây ra cho xã hội. Từ đó tới nay đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tuy nhiên vấn đề này còn rất nhiều tranh luận trong nhiều nghiên cứu.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đƣợc bắt đầu tại Mỹ và nhanh chóng lan tỏa ra toàn cầu nhƣ hiện nay, tuy nhiên đã có rất nhiều tranh cãi về vấn đề này mà chúng ta có thể cảm nhận rõ ràng có sự đối lập khá lớn giữa Mỹ (hay nói chung là các nƣớc Anglo-saxon) và Châu Âu (đặc biệt là các nƣớc Âu châu lục địa nhƣ Anh, 6 uan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Sự khác biệt này nằm ở nguồn gốc đạo đức và tôn giáo trong quan niệm của ngƣời Mỹ, với tính chính trị trong quan niệm về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của Châu Âu vì nó đƣợc xây dựng dựa trên quan niệm về sự phát triển bền vững. Điều này có thể là do xã hội Mỹ ít nhạy cảm hơn trƣớc những nguy cơ mang tính tập thể nhƣ xã hội Châu Âu. Tại Mỹ ngƣời ta quan niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hay công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hoạt động tự nguyện và trách nhiệm xã hội đƣợc gói gọn trong các hoạt động từ thiện.
Những hoạt động này thể hiện qua hệ thống các quỹ xã hội do các doanh nghiệp thành lập – có thể quy mô đáng kể nhƣng vẫn luôn là những hoạt động ngoài các hoạt động kinh tế và không nằm trong hoạt động chính của doanh nghiệp. Ngƣợc lại tại Châu Âu, ngƣời ta có khuynh hƣớng cho rằng các hoạt động từ thiện không nằm trong lĩnh vực trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và đƣợc đánh giá đặt trong khuôn khổ các hoạt động thông thƣờng của doanh nghiệp, trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hay công bố thông tin trách nhiệm xã hội là nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp, có tính chất bắt buộc hơn là tự nguyện. Đặc biệt tại Pháp trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp còn đƣợc quy định trong luật về báo cáo xã hội từ năm 1977 (Law on Social Reporting, Article L. Việc tranh luận thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tự nguyện hay mang tính bắt buộc phụ thuộc nhiều vào quan điểm của ngƣời lãnh đạo khi xem xét giữa hiệu quả tài chính, tối đa hóa lợi nhuận là trong ngắn hạn hay dài hạn, cùng với việc tính toán chi phí và các áp lực từ bên trong, bên ngoài về việc thực hiện trách nhiệm xã hội.
(Friedman, 1970) dựa trên lý thuyết cổ đông, Friedman đã cho rằng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp không có trách nhiệm nào khác ngoài trách nhiệm tạo ra càng nhiều tiền càng tốt cho các cổ đông của mình. Tuy nhiên ông cũng đã cẩn trọng hơn khi cho rằng nếu việc thực hiện và công bố trách nhiệm xã hội giúp doanh nghiệp tối đa hóa đƣợc lợi nhuận thì doanh nghiệp nhất định phải đi theo con đƣờng này. Tƣơng tự, (Carroll, 1991) đã phát triển một khuôn khổ đƣợc gọi là “kim tự tháp của trách nhiệm xã hội” các khuôn khổ bao gồm trách nhiệm của công ty: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện. Nền tảng của kim tự tháp là trách nhiệm kinh tế: có lợi nhuận là điều cốt lõi trách nhiệm của một công ty; Lớp thứ hai của kim tự tháp là trách nhiệm pháp lý, công nhận tầm quan trọng của việc tuân thủ pháp luật của các công ty nếu họ muốn tiếp tục vận hành; Tầng thứ ba của kim tự tháp là 7 uan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com trách nhiệm đạo đức – hoạt động theo đạo đức bằng cách làm những gì đúng và công bằng; Tầng trên cùng của kim tự tháp là trách nhiệm từ thiện, chỉ ra rằng các công ty nên đóng góp một số nguồn lực của họ cho cộng đồng.
TRÁCH NHIỆM TỪ THIỆN Hãy là công dân doanh nghiệp tốt. Đóng góp nguồn lực cho cộng đồng; cài thiện chất lƣợng cuộc sống. TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC Có đạo đức. Có nghĩa vụ thực hiện theo quyền, công bằng và văn minh.
Tránh xa cái xấu. TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ Tuân thủ pháp luật. Pháp luật là bộ quy tắc ứng xử về điều đúng và điều sai. Thực hiện đúng theo pháp luật.
TRÁCH NHIỆM KINH TẾ Có lợi nhuận. Nền tảng dựa trên những giá trị nghỉ ngơi của ngƣời khác.2: Kim tự tháp trách nhiệm xã hội của (Carroll, 1991) Cùng quan điểm này còn có các nghiên cứu (Pomering, 2009), (Lima Crisóstomo, de Souza Freire, & Cortes de Vasconcellos, 2011), (Inoue & Lee, 2011), (Rhou, Singal, & Koh, 2016). Nhóm các nhà nghiên cứu có quan điểm dựa vào lý thuyết các bên liên quan của Freeman từ năm 1984 (Freeman, 2010). Theo quan điểm của nhóm này khi doanh nghiệp ra quyết định và thực hiện các hoạt động theo lợi ích cổ đông thì cần quan tâm tới các đối tƣợng khác nhƣ khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, cộng đồng.
Các hoạt động trách nhiệm xã hội sẽ cải thiện giá trị công ty, hiệu quả tài chính thông qua tiết kiệm chi phí, tăng cƣờng danh tiếng. Cùng quan điểm này còn có các nghiên cứu (Sandra A. Graves, 1997), (Zhongfu, Jianhui, & Pinglin, 2011), (Mustafa, Othman, & Perumal, 2012), (Waworuntu, Wantah, & Rusmanto, 2014), (Laskar, 2019), (Hull & Rothenberg, 2008), (Barnett & Salomon, 2006), (Zahid, Rahman, Khan, Ali, & Shad, 2020), (Herremans, 8 uan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Akathaporn, & McInnes, 1993), (Mishra & Suar, 2010), (Inoue & Lee, 2011), (Platonova, Asutay, Dixon, & Mohammad, 2016), (Mishra & Suar, 2010), (Saleh, Zulkifli, & Muhamad, 2011). Giai đoạn 2: Báo cáo Môi trƣờng Vào đầu những năm 1980, khái niệm bền vững đã đƣợc mở rộng trọng tâm từ báo cáo trách nhiệm xã hội sang cả báo cáo về môi trƣờng.
Điều này là do sự phát triển của các thách thức môi trƣờng mà các doanh nghiệp phải đối mặt, chẳng hạn nhƣ ô nhiễm, suy thoái đất và sự cố tràn dầu (Deegan, 2014). Với sự gia tăng nhận thức của các bên liên quan về tác động của doanh nghiệp đối với môi trƣờng, một số doanh nghiệp bắt đầu công bố các vấn đề môi trƣờng trong các báo cáo của họ. Báo cáo tự nguyện về các vấn đề môi trƣờng trong báo cáo hàng năm cho phép các công ty công bố thông tin về các hoạt động môi trƣờng của họ và bỏ qua những công bố bất lợi có thể ảnh hƣởng đến quyết định của các bên liên quan (Deloitte & Staden, 2011). Do đó, các công ty có các hoạt động môi trƣờng đƣợc công bố nhƣ một chiến thuật hợp pháp để ảnh hƣởng đến các quyết định của họ tới các bên liên quan.
Giai đoạn 3: Báo cáo phát triển bền vững Năm 1987, trong Báo cáo “Tƣơng lai chung của chúng ta”, Ủy ban Thế giới về Môi trƣờng và Phát triển (World Commission on Environment and Development – WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” đƣợc định nghĩa là “Sự phát triển đáp ứng đƣợc nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thƣơng khả năng cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tƣơng lai”. Những năm 1990, các công ty bắt đầu công bố cả ba khía cạnh của tính bền vững: xã hội, môi trƣờng và kinh tế. Một khuôn khổ đƣợc gọi là ba dòng dƣới cùng (TBL) đƣợc phát triển bởi Elkington (Elkington, 1994) gồm xã hội, môi trƣờng và các yếu tố tài chính. Các thông lệ báo cáo về kết quả hoạt động xã hội, môi trƣờng và kinh tế của một công ty đƣợc gọi là báo cáo phát triển bền vững.
Việc công bố các báo cáo bền vững ban đầu là tự nguyện, khi những thách thức về tính bền vững ngày càng tăng thì càng có nhiều nhu cầu về báo cáo bền vững từ các bên liên quan khác nhau, chẳng hạn nhƣ cổ đông, các cơ quan quản lý và cộng đồng xã hội. Do đó, những năm 1990 chứng kiến sự phát triển của báo cáo bền vững, tuy nhiên chất lƣợng của thông tin báo cáo bền vững và cách nó đƣợc quản lý và hệ thống còn nhiều những vấn đề tranh cãi. 9 uan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com Một số sáng kiến đƣợc đƣa ra với mục đích cung cấp các hƣớng dẫn để nâng cao tính minh bạch của các báo cáo phát triển bền vững. Gần đây nhất và toàn diện là sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI), bao gồm 3 khía cạnh bền vững – xã hội, môi trƣờng và kinh tế.
Sáng kiến này đƣợc coi là một hƣớng dẫn toàn diện cho báo cáo bền vững.