Luận văn: Kế toán bán hàng và xác định KQKD tại CP Cấp nước Phú Thọ, HVTC

Phân tích kế toán bán hàng và đánh giá kết quả kinh doanh tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ. Nghiên cứu chi tiết quy trình hạch toán và hiệu quả tài chính.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan kế toán bán hàng và kết quả kinh doanh tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ

Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là nghiệp vụ trọng yếu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp. Tại Công ty Cổ phần Cấp nước Phú Thọ, công tác kế toán bán hàng được tổ chức theo Thông tư 200/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính. Công ty áp dụng hình thức kế toán nhật ký-chứng từ, sử dụng đơn vị tiền tệ là Đồng Việt Nam với niên độ kế toán từ ngày 01/01 đến 31/12 hàng năm. Hệ thống tài khoản kế toán tuân thủ quy định, bao gồm các tài khoản loại 1, 2, 3, 4 phục vụ hạch toán doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh. Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng theo khấu trừ, phương pháp tính khấu hao tài sản cố định theo đường thẳng, phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo kê khai thường xuyên. Giá xuất kho được xác định theo phương pháp đích danh. Các chứng từ sử dụng gồm phiếu thu, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, bảng chấm công, bảng thanh toán lương và bảng phân bổ tiền lương. Công ty hoạt động trong lĩnh vực cấp nước sạch, đặc thù sản phẩm là nước sinh hoạt phục vụ dân sinh và sản xuất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

1.1. Quá trình hình thành và đặc điểm tổ chức kinh doanh

Công ty Cổ phần Cấp nước Phú Thọ được thành lập theo mô hình công ty cổ phần, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh nước sạch. Quá trình phát triển gắn liền với nhu cầu cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh tập trung vào việc khai thác nguồn nước thô, xử lý qua hệ thống nhà máy và phân phối đến người tiêu dùng thông qua mạng lưới đường ống. Bộ máy quản lý được tổ chức với các phòng ban chuyên môn gồm phòng kế toán, phòng kỹ thuật, phòng kinh doanh và các đơn vị trực thuộc. Sản phẩm chính là nước sạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất, mang tính đặc thù riêng biệt so với các ngành kinh doanh khác.

1.2. Hệ thống kế toán và chứng từ áp dụng tại công ty

Công ty áp dụng hệ thống kế toán theo Thông tư 200/2014/TT-BTC. Hình thức sổ kế toán sử dụng là nhật ký-chứng từ, đảm bảo tính hệ thống và kiểm soát chặt chẽ. Hệ thống chứng từ bao gồm phiếu thu mẫu 01-TT, phiếu nhập kho mẫu 01-VT, phiếu xuất kho mẫu 02-VT, bảng chấm công, bảng thanh toán lương và bảng phân bổ tiền lương. Hệ thống tài khoản kế toán đầy đủ các loại từ 1 đến 4, phục vụ hạch toán toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phương pháp kê khai thường xuyên được áp dụng cho hàng tồn kho, kết hợp phương pháp đích danh để xác định giá xuất kho, phù hợp với đặc thù kinh doanh sản phẩm nước sạch.

II. Phân tích thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ, kế toán bán hàng được tổ chức theo trình tự rõ ràng. Doanh thu bán hàng được ghi nhận trên tài khoản 511 khi phát sinh nghiệp vụ bán nước sạch cho khách hàng. Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại được hạch toán trên tài khoản 521. Giá vốn hàng xuất bán được xác định theo phương pháp đích danh, phản ánh chi phí thực tế của từng lô nước sạch cung cấp. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp được theo dõi riêng biệt trên các tài khoản 641 và 642. Doanh thu và chi phí hoạt động tài chính được ghi nhận trên tài khoản 515 và 635. Thu nhập khác và chi phí khác phản ánh trên tài khoản 711 và 811. Cuối kỳ, kế toán tiến hành xác định kết quả kinh doanh bằng cách tổng hợp toàn bộ doanh thu, thu nhập trừ đi chi phí và thuế thu nhập doanh nghiệp. Số liệu được trình bày trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo mẫu quy định.

2.1. Kế toán doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu

Doanh thu bán hàng tại công ty được ghi nhận khi đáp ứng điều kiện theo quy định, bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm nước sạch cho khách hàng. Tài khoản 511 phản ánh toàn bộ doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ. Các khoản giảm trừ doanh thu gồm chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Nếu chiết khấu được trừ ngay trên hóa đơn thì không phản ánh hạch toán giảm trừ. Trường hợp các khoản giảm trừ phát sinh sau khi doanh thu đã ghi nhận, chúng được hạch toán trên tài khoản 521. Cuối kỳ, số dư tài khoản 521 được kết chuyển sang bên Nợ tài khoản 511 để xác định doanh thu bán hàng thuần.

2.2. Kế toán giá vốn và chi phí kinh doanh tại công ty

Giá vốn hàng xuất bán được xác định theo phương pháp đích danh, phù hợp với đặc thù sản phẩm nước sạch. Trị giá vốn bao gồm chi phí nguyên liệu, chi phí xử lý nước và các chi phí sản xuất trực tiếp khác. Chi phí bán hàng trên tài khoản 641 phản ánh chi phí tiếp thị, bán hàng, hoa hồng. Chi phí quản lý doanh nghiệp trên tài khoản 642 bao gồm lương ban giám đốc, chi phí văn phòng, khấu hao tài sản cố định phục vụ quản lý. Chi phí hoạt động tài chính ghi nhận trên tài khoản 635, chủ yếu là lãi vay ngân hàng. Cuối kỳ, toàn bộ chi phí được kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh.

III. Giải pháp hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Dựa trên phân tích thực trạng, một số giải pháp được đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ. Thứ nhất, cần chuẩn hóa quy trình hạch toán doanh thu, đảm bảo ghi nhận đầy đủ và kịp thời toàn bộ doanh thu phát sinh. Thứ hai, xây dựng hệ thống quản lý giá vốn hiệu quả hơn, theo dõi chi tiết chi phí sản xuất nước sạch theo từng nhà máy xử lý. Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống kế toán, sử dụng phần mềm kế toán hiện đại để giảm thiểu sai sót và tăng tốc độ xử lý số liệu. Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ bán hàng và thu tiền. Thứ năm, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ kế toán viên, cập nhật kịp thời các quy định mới của Bộ Tài chính. Cuối cùng, hoàn thiện hệ thống báo cáo quản trị nội bộ phục vụ ra quyết định kinh doanh của ban lãnh đạo công ty.

3.1. Ứng dụng công nghệ thông tin vào hệ thống kế toán

Việc ứng dụng công nghệ thông tin là giải pháp then chốt để nâng cao hiệu quả công tác kế toán tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ. Phần mềm kế toán giúp tự động hóa quy trình hạch toán, giảm thiểu sai sót do nhập liệu thủ công. Hệ thống quản lý khách hàng tích hợp giúp theo dõi công nợ và lịch sử thanh toán chính xác. Báo cáo tài chính được lập nhanh chóng và chính xác hơn. Công nghệ còn hỗ trợ kết nối giữa các bộ phận kinh doanh, kỹ thuật và kế toán, tạo luồng thông tin liên tục. Việc số hóa chứng từ lưu trữ giúp tra cứu dễ dàng và tiết kiệm không gian lưu trữ vật lý.

3.2. Hoàn thiện quy trình kiểm soát nội bộ và đào tạo nhân sự

Kiểm soát nội bộ là yếu tố quan trọng đảm bảo độ tin cậy của thông tin kế toán. Công ty cần xây dựng quy trình phê duyệt chặt chẽ cho các giao dịch bán hàng có giá trị lớn. Phân công nhiệm vụ rõ ràng, thực hiện nguyên tắc không kiêm nhiệm để tránh xung đột lợi ích. Kiểm tra chéo giữa các khâu từ lập hóa đơn, ghi sổ đến thu tiền giúp phát hiện sai sót kịp thời. Đào tạo nhân sự kế toán cần được thực hiện định kỳ, cập nhật kiến thức về chuẩn mực kế toán mới và quy định thuế. Công ty nên tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu về kế toán doanh thu và xác định kết quả kinh doanh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn kế toán bán hàng tại Công ty CP Cấp nước Phú Thọ

Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh đóng vai trò trung tâm trong hệ thống kế toán của Công ty CP Cấp nước Phú Thọ. Qua quá trình nghiên cứu, công tác kế toán tại công ty cơ bản tuân thủ đúng quy định của Thông tư 200/2014/TT-BTC. Hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ sách được tổ chức tương đối hoàn chỉnh. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hạn chế về ứng dụng công nghệ và quy trình kiểm soát nội bộ. Các giải pháp đề xuất tập trung vào chuẩn hóa quy trình, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo nhân sự. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với công ty và các doanh nghiệp cấp nước khác trong việc nâng cao chất lượng thông tin kế toán. Thông tin kế toán chính xác giúp ban lãnh đạo đưa ra quyết định kinh doanh đúng đắn, đảm bảo hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Đây cũng là cơ sở để cơ quan thuế và các bên liên quan đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp.

4.1. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu đối với doanh nghiệp

Kết quả nghiên cứu mang lại nhiều giá trị thiết thực cho Công ty CP Cấp nước Phú Thọ. Việc phân tích thực trạng kế toán bán hàng giúp công ty nhận diện rõ điểm mạnh và điểm yếu trong công tác hạch toán. Các giải pháp đề xuất là cơ sở để ban lãnh đạo xây dựng kế hoạch cải tiến hệ thống kế toán. Nâng cao chất lượng thông tin kế toán giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu quản trị nội bộ và nghĩa vụ báo cáo đối với cơ quan nhà nước. Kết quả nghiên cứu cũng hỗ trợ công ty trong việc lập kế hoạch tài chính, dự báo doanh thu và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn.

4.2. Khuyến nghị và hướng phát triển cho công ty

Công ty CP Cấp nước Phú Thọ nên tập trung đầu tư vào hệ thống công nghệ thông tin phục vụ kế toán, áp dụng phần mềm quản trị tài chính kế toán tích hợp. Cần xây dựng bộ quy trình chuẩn cho từng nghiệp vụ kế toán bán hàng, từ ghi nhận doanh thu đến xác định kết quả kinh doanh. Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực kế toán, khuyến khích học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Tăng cường công tác kiểm toán nội bộ, định kỳ rà soát và đánh giá hiệu quả hệ thống kiểm soát. Hướng tới áp dụng kế toán quản trị để phục vụ tốt hơn nhu cầu ra quyết định chiến lược của ban lãnh đạo công ty.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

29/05/2026
Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần cấp nước phú thọ luận văn tốt nghiệp chuyên ngành kế toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Bán hàng và phương thức bán hàng: 1. Khái niệm bán hàng: Bán hàng là hoạt động chuyển quyền sở hữu sản phẩm gắn với phần lớn lợi ích và rủi ro cho khách hàng, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất – kinh doanh, đây là quá trình chuyển hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán.

Các phương thức bán hàng: 1.Bán buôn hàng hóa: Bán buôn hàng hóa là hình thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất. Đặc điểm của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Do vậy, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện. Hàng hóa bán buôn thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng lớn.

Giá bán biến động tùy thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Trong bán buôn bao gồm hai hình thức đó là bán buôn hàng hóa qua kho và bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng. ˗ Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: Là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hóa qua kho được thực hiện dưới hai hình thức là bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển hàng.

+ Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này, bên mua cử đại diện đến kho bảo quản của doanh nghiệp để nhận SV: Hứa Hồng Ngọc 4 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính hàng. Doanh nghiệp xuất kho hàng hóa giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ. + Bán buôn hàng hóa qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp xuất kho hàng hóa, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng.

Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ lhi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất quyền sở hữu về số hàng đã giao. ˗ Phương thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: Theo phương thức này. Doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này được thể hiện theo hai hình thức đó là bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng.

+ Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp ( hay gọi là hình thức giao tay ba): Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện bên mua tại kho người bán. Sau khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác định là tiêu thụ. + Bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

Khi nhận được tiền của bên SV: Hứa Hồng Ngọc 5 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ. Bán lẻ hàng hóa: Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định.

Bán lẻ thường được thể hiện dưới hình thức bán lẻ thi tiền trực tiếp; bán lẻ thu tiền tập trung; bán lẻ tự phục vụ; bán lẻ theo hình thức trả góp; bán lẻ theo hình thức gửi đại lý hay ký gửi hàng hóa; bán lẻ theo hình thức bán hàng tự động. ˗ Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thi tiền của khách hàng và giao hàng cho khách hàng. Hết ca hoặc hết ngày, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.

- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Theo hình thức này, nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng cho người mua là tách biệt. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Hết ca hoặc hết ngày, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

- Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, mang đến bàn tính tiền để thanh toán tiền hàng. SV: Hứa Hồng Ngọc 6 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hoá ở quầy do mình phụ trách. Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị.

- Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Ngoài số tiền thu theo giá bán thông thường doanh nghiệp còn thu thêm ở người mua một khoản lãi do trả chậm. Đối với hình thức này, về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng. Tuy nhiên, về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hoá bán trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhận doanh thu.

- Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng chyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi doanh nghiệp được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hay chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được, doanh nghiệp mới mất quyền sở hữu về số hàng này. - Hình thức bán hàng tự động: Là hình thức bán lẻ hàng hoá mà trong đó, các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng.

Khách hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua. Xác định kết quả kinh doanh và phương pháp xác định kết quả kinh doanh: 1. Khái niệm xác định kết quả kinh doanh: Kết quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của doanh nghiệp trong một thời kì nhất SV: Hứa Hồng Ngọc 7 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính định, được biếu hiện bằng số tiền lãi hay lỗ. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh thông thường và kết quả hoạt động khác.

Phương pháp xác định kết quả kinh doanh: Kết quả hoạt động thông thường là kết quả từ những hoạt động tạo ra doanh thu của doanh nghiệp, đây là hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và hoạt động tài chính: Kết quả hoạt Tổng doanh Giá vốn của động SXKD thu thuần về hàng đã xuất Chi phí bán hàng (bán hàng và = bán hàng và - bán và chi - và chi phí quản lý cung cấp dịch cung cấp phí thuế doanh nghiệp vụ) dịch vụ TNDN Kết quả từ Doanh thu về hoạt Chi phí về hoạt động hoạt động = - động tài chính tài chính tài chính Trong đó: ˗ Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tính bằng tổng doanh thu bán hàng và cũng cấp dịch vụ trừ đi (-) các khoản giảm trừ doanh thu (chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, doanh thu hàng bán bị trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khấu, thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp). ˗ Kết quả hoạt động khác là kết quả được tính bằng chênh lệch giữa thu nhập khác và chi phí khác: Kết quả hoạt động khác = Thu nhập khác – Chi phí khác. SV: Hứa Hồng Ngọc 8 Lớp: CQ55/21.01 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1. Mối quan hệ giữa bán hàng và xác định kết quả kinh doanh: Kết quả từ hoạt động bán hàng là một phần trọng yếu trong kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói việc xác định kết quả hoạt động bán hàng là yếu tố then chốt để xác định kết quả kinh doanh nhằm phục vụ việc ra quyết định ngắn hạn như doanh nghiệp có tiếp tục bán hàng hay kinh doanh mặt hàng đó hay không. Và hoạt động bán hàng chính là công cụ để thực hiện điều đó, bán hàng chính là phương tiện trực tiếp để doanh nghiệp xác lập mục tiêu kết quả bán hàng, cũng như kết quả kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ