Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về giới và ảnh hưởng của giới tính giám đốc đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị chính sách 29 Biến phụ thuộc mô tả hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được sử dụng trong mô hình là Tobin’Q (bài viết đã sử dụng hàm log của Tobin’s Q để giảm độ thiên lệch). Biến độc lập là Tỷ lệ nữ giới trong bộ phận quản lý doanh nghiệp. Biến kiểm soát bao gồm các biến tuổi doanh nghiệp, đòn bẩy Hệ số CapEx (được đo lường bằng tỷ lệ chi phí sử dụng vốn trên tổng tài sản kỳ trước), lợi nhuận quá khứ của DN và cuối cùng là quy mô DN. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra hệ số ước lượng thể hiện mối tương quan giữa tỷ lệ nữ giới trong bộ phận quản lý và hiệu quả DN là dương và bằng 0.0375 với mức ý nghĩa 1%.
Điều này có nghĩa là, nếu tỷ lệ nữ trong bộ phận quản lý của doanh nghiệp tăng thêm 1% thì hiệu quả hoạt động (được đo bằng hệ số Tobin’s Q) sẽ tăng lên 0. Năm 2017, Lê Hoàng Long và cộng sự đã có nghiên cứu nhằm mục đích điều tra sự khác biệt về giới trong tiếp cận tài chính đối với trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu từ cuộc điều tra khảo sát các doanh nghiệp sản xuất quy mô vừa và nhỏ tại Việt Nam, bao gồm các cuộc điều tra năm 2005, 2007, 2009, 2011 và 2013. Đây là một trong số ít các cuộc điều tra chính thức quy mô lớn tại Việt Nam, cuộc khảo sát đã được thực hiện hai năm một lần trên mẫu của khoảng 2.
Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu 7 ngành nghề kinh doanh lớn nhất chiếm 77% tổng số doanh nghiệp trong cuộc khảo sát năm 2013. Chúng bao gồm thực phẩm và đồ uống, may mặc, chế biến gỗ, sản phẩm cao su và nhựa, sản phẩm kim loại chế tạo và sản phẩm điện tử. Dữ liệu bảng không cân bằng cuối cùng bao gồm 8.688 quan sát, đại diện cho 3. Biến phụ thuộc là Số lượng các khoản vay chính thức bị từ chối.
Biến độc lập là biến giả nữ giám đốc (Female). Các biến kiểm soát là trình độ học vấn (Dedu), tuổi của doanh nghiệp (Fage), log số lao động (Logemp). Dựa trên những dữ liệu, nhóm nghiên cứu chia các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong mẫu thành 2 nhóm: các doanh nghiệp nộp đơn xin khoản vay chính thức và các doanh nghiệp không nộp đơn xin khoản vay chính thức. Tập trung vào nhóm đầu tiên, nghiên cứu này điều tra xem các doanh nghiệp có giám đốc là nữ có bị từ chối nhiều lần hơn so với các doanh nghiệp có giám đốc là nam hay không khi họ áp dụng cho một khoản vay chính thức.
Về nhóm thứ hai, nhóm nghiên cứu xác định sự khác biệt về giới trong lý do tại sao họ không áp dụng cho khoản vay chính thức. Kết quả chỉ ra rằng có tồn tại sự phân biệt đối xử trong khả năng tiếp cận tài chính, trong đó các doanh nghiệp có giám đốc là nữ phải đối mặt với khả năng cao hơn bị từ chối các khoản vay so với các doanh nghiệp có giám đốc là nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra sự phân biệt đối xử này không diễn ra trong tất cả các ngành 30 mà chỉ diễn ra ở một số ngành. Cụ thể, trong các ngành Thực phẩm & Đồ uống, ngành May mặc, nơi có tỷ lệ lao động nữ và lãnh đạo nữ cao hơn, không có bằng chứng về phân biệt đối xử trong việc tiếp cận vốn.
Trong khi đó, trong các ngành như chế biến gỗ, sản phẩm kim loại, điện tử, cao su và nhựa, các doanh nghiệp có giám đốc là nữ phải đối mặt với khả năng bị từ chối cao hơn. Phan Bùi Gia Thủy và cộng sự (2017) đã sử dụng mẫu dữ liệu gồm 120 công ty được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, số liệu được lấy thủ công từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán và báo cáo thường niên của 120 công ty này trong vòng 7 năm liên tiếp, từ năm 2009-2015, tổng cộng là 840 quan sát. Nghiên cứu của Phan Bùi Gia Thủy và cộng sự được thực hiện với mục đích đo lường tác động của đặc điểm Tổng giám đốc điều hành (Chief Executive Officer - CEO) đến hiệu quả hoạt động công ty ở Việt Nam. Biến phụ thuộc thể hiện hiệu quả hoạt động công ty được sử dụng là chỉ số tài chính ROA.
Biến độc lập là các đặc điểm của tổng giám đốc điều hành bao gồm: độ tuổi (CEOAge), tỷ lệ sở hữu (CEO Own), quyền kiêm nhiệm (CEO NonMember, CEO Member, và CEO Dual), trình độ học vấn (CEO Edu), và nữ giới (CEO Female). Các biến kiểm soát biểu thị đặc điểm công ty bao gồm: tỷ lệ nợ (Debt), tổng tài sản (Firm Size), và số năm thành lập công ty (Firm Year). Đầu tiên nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để thống kê về đặc điểm của CEO và đặc điểm công ty, bao gồm: giá trị trung bình, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất, và độ lệch chuẩn. Sau đó, nhóm tác giả tiến hành phân tích tương quan giữa các biến, kết quả cho thấy rằng hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình không nghiêm trọng.
Cuối cùng, tác giả sử dụng phân tích hồi quy theo phương pháp ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model - FEM) để ước lượng mức độ ảnh hưởng của đặc điểm của Tổng giám đốc điều hành (độ tuổi, tỷ lệ sở hữu, quyền kiêm nhiệm, trình độ học vấn, và giới tính) đến hiệu quả hoạt động của công ty (ROA). Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động của mỗi biến độc lập khác nhau lên biến phụ thuộc là khác nhau, có những mối quan hệ tuyến tính, phi tuyến, nhưng cũng có biến độc lập không có mối quan hệ gì với biến phụ thuộc. Cụ thể, ảnh hưởng của độ tuổi và tỷ lệ sở hữu vốn của Tổng giám đốc điều hành đến hiệu quả hoạt động công ty là phi tuyến. Khi độ tuổi của tổng giám đốc điều hành gia tăng đến khoảng 44 hay 45 tuổi, hiệu quả hoạt động công ty gia tăng.
Nhưng khi tuổi của tổng giám đốc vượt qua ngưỡng tuổi này, đồng nghĩa tuổi đời của tổng giám đốc càng cao, sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động công ty; Về tỷ lệ sở hữu vốn thì nghiên cứu cho thấy rằng nếu mức tỷ lệ sở hữu vốn của Tổng giám đốc điều hành nhỏ hơn 30,18% thì khả năng sinh lợi của công ty giảm khi 31 tỷ lệ sở hữu vốn của tổng giám đốc tăng, nhưng khi vượt qua mức tỷ lệ này, hiệu quả hoạt động của công ty sẽ gia tăng trở lại; Ngoài ra, những công ty có CEO kiêm nhiệm chủ tịch Hội đồng quản trị sẽ có hiệu quả tốt hơn so với các công ty không duy trì cấu trúc này. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, nhóm tác giả không tìm thấy mối quan hệ giữa giới tính cũng như trình độ của Tổng giám đốc điều hành đến hiệu quả của công ty, hay nói cách khác, kết quả về sự tác động của Tổng giám đốc điều hành nữ và trình độ học vấn của Tổng giám đốc điều hành đến hiệu quả hoạt động công ty vẫn chưa rõ ràng. Nói tóm lại, hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu phân tích về mối quan hệ giữa giới tính của người quản lý với kết quả họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi dạng mô hình đều có những ưu nhược điểm riêng và được cụ thể hóa vào điều kiện nghiên cứu cụ thể của từng khu vực, của từng nước.
Các tác giả đã đưa ra sự khác biệt về giới tính của người quản lý trong việc thành lập doanh nghiệp, vận hành và quản lý doanh nghiệp; số lượng doanh nghiệp do nam giới sở hữu chiếm ưu thế hơn nhiều so với doanh nghiệp do nữ giới sở hữu tại rất nhiều khu vực trên thế giới. Các doanh nghiệp do nam giới sở hữu và mặt khác do nữ giới sở hữu thường tập trung vào các lĩnh vực khác nhau, giám đốc nữ thường tham gia nhiều hơn vào các ngành sử dụng nhiều lao động như thương mại và dịch vụ, và ít tham gia vào các ngành sản xuất cần đầu tư vốn lớn. Một số nghiên cứu đưa ra một số khác biệt về giới tính nhất định trong các mô hình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Và đa phần ở hầu hết các nghiên cứu, các tác giả thường so sánh sự khác biệt về kết quả hoạt động kinh doanh giữa doanh nghiệp có giám đốc là nam và doanh nghiệp có giám đốc là nữ, kết quả hoạt động kinh doanh thông thường được đo lường bằng các chỉ tiêu như lợi nhuận, doanh thu, ROA, ROE.
Còn một số nghiên cứu lại chỉ ra được một số sự khác biệt tiềm năng trong hành vi kinh doanh khi chủ doanh nghiệp là nam và chủ doanh nghiệp là nữ, và cũng đã cố gắng đi tìm nguyên nhân cho sự khác biệt đó, những rào cản mà các doanh nhân nữ thường gặp phải. Tổng quan tình hình nghiên cứu về giới tính giám đốc và sự lo ngại rủi ro Trong các nghiên cứu trên thế giới, để giải thích cho sự khác biệt về kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp khi có sự khác biệt về giới tính của người quản lý, đặc biệt là vấn đề chọn ngành kinh doanh, cũng như vấn đề tiếp cận vốn, từ đó dẫn đến sự khác biệt về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các nghiên cứu đã đưa ra rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Có những nguyên nhân xuất hiện từ phía cung (yếu tố thể chế, sự phân biệt đối xử, ….), và cũng có những nguyên nhân xuất hiện từ phía cầu (bản thân người phụ nữ). 32 Welter và Smallbone (2003) lập luận rằng trong khi các thể chế chính thức có thể ảnh hưởng đến cơ hội của các doanh nghiệp thì các thể chế không chính thức có thể ảnh hưởng lớn đến sự nhận thức các cơ hội kinh doanh.
Aidis et at (2007) đã lập danh mục các thể chế quan trọng có ảnh hưởng đến nữ doanh nhân. Về các thể chế chính thức, họ xác định bình đẳng giới chính thức công nhận bởi pháp luật, pháp luật về thị trường lao động, pháp luật về thuế, ….