CHƯƠNG I. Tổng quan lý thuyết về cơ cấu vốn và hiệu quả kinh. doanh của doanh nghiệp. Thực trạng và mói quan hệ hai chiều giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh cho các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. TONG QUAN LY THUYET VE CO CAU VON VA HIEU QUA KINH DOANH CUA DOANH NGHIEP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VE CO CAU VON VA CAC NHÂN TÓ ANH HUONG DEN CO CAU VON CUA DOANH NGHIEP 1. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1.
Khái niệm và đặc điểm chung vẻ cơ cầu vốn của doanh nghiệp Vốn là một điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của bất cứ doanh nghiệp nào. Có nhiều loại nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận bao gồm nguồn vốn từ chủ sở hữu, vốn vay từ bên ngoài (vay ngắn hạn hoặc dài hạn), Mỗi một loại nguồn vốn đều có chỉ phí sử dụng nhất định. Do vậy, đẻ có thẻ huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn của mình, doanh nghiệp phải nghiên cứu chi phí của từng nguồn vốn để từ đó xác định một cơ cầu hợp. lý, phù hợp với từng doanh nghiệp cụ thể, từng môi trường kinh doanh cũng.
như từng giai đoạn cụ thể. “Cơ cấu vốn hay cấu trúc nguôn vốn (capital structure/ leverage/ Jnaneial strueture) là thuật ngữ đề cập đến quan hệ tỷ lệ giữa nợ phải trả (có thể là tổng nợ hoặc nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu (hoặc tổng vốn đầu tr) của một doanh nghiệp ” (Nguyễn Thu Thủy, 201 1, tr.220) Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chi bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đồi giữa chỉ phí và lợi ích của doanh nghiệp. Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho doanh nghiệp, đồng thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý (đặc biệt với số lượng hạn chế cơ hội kinh doanh và đầu tư).
Mặt khác, gánh nặng nợ lại tạo áp lực với doanh nghiệp. Chỉ phí vay nợ có tác động đáng kể tới vận hành kinh doanh, thậm chí, dẫn tới đóng cửa doanh nghiệp. Tài trợ từ vốn góp cd phần không tạo ra chỉ phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các cô đông có thể can thiệp vào hoạt động điều hành doanh nghiệp.
Kỳ vọng cao vào hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà đầu tư cũng tạo sức ép đáng kế cho đội ngũ quản lý. “Theo quan điểm của tác giả, dù có được định nghĩa thế nào thì cơ cấu vốn cũng là một quyết định tài chính quan trọng của doanh nghiệp và mang. một số đặc trưng sau đâ: - Với mỗi một nguồn vốn, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra những chỉ phí nhất định để sử dụng chúng. Với nợ vay thì đó là chỉ phí lãi vay phải trả, với vốn chủ sở hữu thì sẽ là tỷ lệ sinh lời kỳ vọng của cô đông.
Do vậy với mỗi một sự kết hợp giữa Nợ và Vốn chủ sở hữu (hoặc Tổng vốn) sẽ xác định được một tỉ lệ chỉ phí sử dụng vốn trung bình có trọng số (Weighfed average cost oƒˆ capital— WACC) của doanh nghiệp là khác nhau. - Việc lựa chọn cơ cầu vốn như thế nào sẽ ảnh hưởng đến các quyết định sản xuất kinh doanh mà chủ sở hữu sẽ đưa ra trên cơ sở đánh giá rủi ro của các dự án đầu tư và đánh giá giá trị mà họ và bên chủ nợ sẽ được hưởng, nếu đầu tư vào dự án đó. Do vậy, cơ cấu vốn cũng ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. ~ Cơ cầu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu.
(return on equity— ROE) và rùi ro tài chính của doanh nghiệp, thông qua đòn bẩy tài chính và đòn bẩy tổng hợp. ~ Có rất nhiều nhân tố tác động đến cơ cấu vốn, do đó, không có cơ cấu. vốn tối ưu cho mọi doanh nghiệp, trong mọi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Nói cách khác, khi nghiên cứu cơ cấu vốn của doanh nghiệp phải nghiên cứu trong trạng thái động, chứ không thể nghiên cứu trong trạng thái tĩnh.
Nhu vay, vấn đề đặt ra khi nghiên cứu về cơ cấu vốn là doanh nghiệp. cần phối hợp sử dụng các nguồn vốn như thế nào đề tạo ra một cơ cấu vốn hợp lý nhằm mang lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá cơ cầu vốn Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn của một doanh nghiệp, người ta chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp. Cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp được thể hiện qua các chỉ tiêu chủ yếu sau: * Hệ số nợ: Nợ phải trả Hệ số nợ = Tổng nguồn vốn (hoặc tổng tải sản) (Nguyên Thu Thủy, 2011, tr.78) Hệ số này cho biết trong một đồng tài sản (nguồn vốn) của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng được tài trợ bằng nợ vay.
Chỉ tiêu “nợ phải trả” trong tử số của phân số trên có thẻ lấy giá trị là tổng nợ, nợ dài hạn hay nợ ngắn hạn, tùy vào mục đích phân tích của người sử dụng. 10 Hệ số nợ cho thấy mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào nguồn vốn vay từ bên ngoài. Nếu hệ số nợ càng thấp chứng tỏ doanh nghiệp ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay bên ngoài, doanh nghiệp có thể tự huy động vốn được do. vậy không bị rằng buộc và áp lực với việc thanh toán các khoản nợ vay đến hạn.
Ngược lại, khi tỷ lệ này cao, doanh nghiệp tuy có thẻ tận dụng được lợi ích từ “lá chắn thuế” nhưng lại phải đối mặt với rủi ro cao trong thanh toán, không thể tự chủ tài chính mà phải phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn huy động được từ bên ngoài. * Hệ số vốn chú sở hữu (hệ số tự tài trợ): Vốn chủ sở hữu Hệ số VCSH — Trang ngưền vấn (hoặc tổng tải sâm) (Vũ Quang Kết, 2007, tr.54) Tương tự như hệ số nợ, chỉ tiêu hệ số vốn chủ sở hữu thể hiện phần. trăm vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hay còn được hiểu là một đồng vốn của doanh nghiệp được đầu tư bởi bao nhiêu vốn của chủ sở hữu.
Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vì vậy, ta có thể thầy được mối quan hệ của hai chỉ tiêu trên: Hệ số nợ trên tổng nguôn vốn + Hệ số vốn chủ sở hữu = Ï * Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu: Hệ số nợ trên vốn chủ sở hiểu = VốnNg chủphảisở trảhữu (Nguyên Thu Thủy, 2011, tr.79) Chỉ tiêu “nợ phải trả” trên tử số của biểu thức có thê lấy giá trị tổng, nợ, nợ dài hạn hay nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, tùy vào mục đích nghiên 11 cứu của người sử dụng. Tỷ lệ này cho biết cứ một đồng vốn mà chủ sở hữu góp vào thì có bao nhiêu đồng sẽ được tài trợ bởi nguồn vốn vay từ bên ngoài. * Hệ số đảm bảo nợ: Vốn chủ sở hữu He so dam bdo no = Neonat era (Vii Quang Két, 2007, tr.55) Hệ số đảm bảo nợ = 1/ Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu Hệ số này phản ánh cứ một đồng vốn vay nợ thì có mấy đồng vốn chủ sở hữu đảm bảo, thông thường hệ số này không nên nhỏ hơn I Nhu vậy, thông qua các chỉ tiêu xác định cơ cấu vốn nói trên có thể thấy được sự đóng góp của chủ sở hữu trong tông số vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng.
Nếu chủ sở hữu đóng góp nhiều vào tổng nguồn vốn thì tỷ số tự tài trợ cao, tỷ số nợ tháp, hệ số đòn bẩy tài chính tháp và hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cũng thấp và ngược lại. Dựa vào các chỉ tiêu về cơ cấu vốn, chủ nợ thấy được mức độ an toàn đối với những món nợ đã cho vay. Một tỷ số nợ cao phản ánh vốn góp của chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trên tổng nguồn vốn, điều này có thê trở thành động cơ khuyến khích thái độ thiếu trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh, họ có thể đưa ra những quyết định đầu tư liều lĩnh vượt ngoài khả năng kiểm soát, đầu cơ hoặc kinh doanh trái phép nhằm tìm kiếm tỷ suất sinh lời cao nhưng nếu thất bại thì chủ doanh nghiệp chỉ mắt ít, phần lớn rủi ro sẽ do các chủ nợ gánh chịu. Chính vì vậy, các chủ nợ thường thích doanh nghiệp duy trì một tỷ số nợ vừa phải, tỷ số nợ càng thấp thì các món nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản.
Còn về phía chủ doanh nghiệp, tỷ số nợ cao có nghĩa là vốn đầu tư hoạt động kinh doanh chủ yếu từ nợ vay. Chủ doanh nghiệp sẽ được 12 được quyền kiểm soát với một số vốn đóng góp rất ít hoặc không cần góp thêm vốn. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp còn có cơ hội gia tăng thêm tỷ suất sinh lời trên n chủ sở hữu khi hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt (tỷ suất lợi nhuận trên số vốn vay lớn hơn lãi suất vay). Như vậy, chủ doanh nghiệp cần xem xét từng trường hợp tương quan giữa lãi su: vay và tỷ lệ hoàn vốn để ra quyết định một tỷ số nợ hợp lý.
Đối với nhà đầu tư, một doanh nghiệp có tỷ số nợ cao thì rủi ro tài chính cao, vì vậy họ sẽ đòi hỏi tỷ suất sinh lời lớn hơn để có mức đền bù tương xứng với những rủi ro này và ngược lại. Đó sẽ là một căn cứ quan trọng. giúp các nhà đầu tư xác định giá trị nội tại của các chứng khoán và ra quyết định. Nếu doanh nghiệp không đáp ứng được tỷ suất sinh lời kỳ vọng nói trên thì họ sẽ không chấp nhận đầu tư vốn hoặc sẽ tìm cách rút vốn và ngược lại Từ phân tích trên cho thấy các nhà quản trị tài chính sẽ cần phải cân nhắc đến sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu sao cho hợp lý nhằm góp.
phần gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu nhưng vẫn đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh. Các lý thuyết về cơ cấu vốn 1.