chương 1 đã trình bày các đóng góp của luận văn này và phân chia kết cấu. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm về cấu trúc vốn của doanh nghiệp Gangeni (2006) cho rằng CTV của doanh nghiệp là sự kết hợp giữa các loại chứng khoán và các nguồn tài chính được sử dụng để tài trợ đầu tư cho các dự án. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư để duy trì hoạt động kinh doanh và tăng trưởng. Doanh nghiệp có nhiều cách để huy động đầu tư từ nhiều nguồn tài trợ tài chính, nguồn tài trợ nội bộ như lợi nhuận giữ lại và phát hành cổ phiếu ra công chúng; hoặc sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài như phát hành trái phiếu, hoặc các khoản nợ vay.
Loth (2022) cho rằng CTV mô tả sự kết hợp giữa vốn dài hạn của một công ty, là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu nhằm hỗ trợ sự phát triển của công ty và các tài sản liên quan. Rehan (2023) cho rằng CTV được gọi là sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu được tài trợ cho một công ty để thực hiện các hoạt động hoạt động của mình và đạt được các mục tiêu chiến lược về tăng trưởng tài chính. Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng CTV là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp, có thể huy động được nhằm tài trợ cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. CTV được lựa chọn trong doanh nghiệp phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của doanh nghiệp hoặc những biến động của thị trường buộc doanh nghiệp phải thay đổi để thích ứng duy trì hoạt động kinh doanh.
Nguyễn Đình Luận (2016) cho rằng CTV hay cơ cấu vốn là sự mô tả tỷ trọng của nợ vay và VCSH hình thành nên tổng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này được phục vụ cho các mục đích vận hành hoạt động kinh doanh hàng ngày, trang bị TSCĐ hay đầu tư vào các hạng mục của doanh nghiệp. Cơ cấu vốn 11 của các doanh nghiệp thường có những biến động vào các chu kỳ kinh doanh tương ứng, ngoài ra cơ cấu vốn có thể mang lại lợi ích hoặc hạn chế cho doanh nghiệp tùy thuộc vào sự lựa chọn. Tóm lại, tại luận văn này thì CTV được định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và VCSH được huy động để hình thành nguồn vốn của doanh nghiệp.
Trong đó nguồn vốn này nhằm phục vụ cho hoạt động sắm sửa tài sản, cơ sở vật chất và vận hành kinh doanh của doanh nghiệp. Một CTV của doanh nghiệp thì thường tập trung vào mối quan hệ giữa nợ phải trả và VCSH, do đó một cấu trúc hợp lý cần phải có sự hài hòa giữa nợ phải trả và VCSH khi đó chi phí sử dụng vốn thấp cùng với rủi ro chấp nhận được phù hợp với các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.2 Vai trò của cấu trúc vốn 2.1 Đối với doanh nghiệp Cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng và đúng đắn của mọi doanh nghiệp, vì nó giúp cho doanh nghiệp ngoài tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân, tổ chức liên quan và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, mà quyết định này còn thể hiện tập trung vào năng lực kinh doanh của doanh nghiệp với môi trường với sự cạnh tranh. Goyal (2013) cho rằng đối với doanh nghiệp thì quyết định về cấu trúc vốn rất quan trọng đối với giá trị doanh nghiệp và chi phí vốn sử dụng. Vì một cấu trúc vốn kém thì dẫn đến việc chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên, từ đó làm cho hiện giá giá trị thuần của doanh nghiệp giảm đi, tạo ra cơ sở các dự án đầu tư của doanh nghiệp kém hiệu quả và không chấp nhận được.2 Đối với nhà đầu tư và người cho vay Goyal (2013) cho rằng tỷ lệ nguồn hình thành trong một cấu trúc vốn của doanh nghiệp sẽ làm thay đổi về nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của doanh nghiệp đó.
Đối với khía cạnh các nhà đầu tư, một doanh nghiệp có quá ít VCSH thì họ sẽ phải sử dụng đến vốn vay nhiều hơn, rủi ro sẽ được đánh giá cao hơn vì các nhà đầu tư cho rằng lúc này doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với sức ép thanh toán các 12 khoản nợ, việc chi trả các trách nhiệm tài chính nhiều hơn sẽ tác động tiêu cực đến quyết định quản lý của lãnh đạo đối với tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hay nếu tỷ lệ nợ tăng nhanh và không hiệu quả sẽ dễ dẫn đến tình trạng phá sản của các doanh nghiệp. Nhưng cũng loại trừ những trường hợp khi vay nợ tăng cao với lãi suất ưu đãi thì chi phí lãi có thể tiết kiệm được. Đối với khía cạnh người cho vay khi họ nhận thấy tỷ lệ vay nợ của doanh nghiệp đang quá cao và áp lực trả nợ quá nhiều thì khả năng phá sản cũng tăng theo, do đó họ sẽ nhìn vào tình trạng này của doanh nghiệp để đưa ra quyết định có nên cho vay tiếp tục hay không? Vì nếu cho vay và doanh nghiệp không kinh doanh hiệu quả thí sẽ đến lúc giá trị thị trường của tổng nợ cao hơn giá trị tổng tài sản thực của doanh nghiệp, có nghĩa là doanh nghiệp bán hết tài sản cũng không trả được nợ thì người cho vay sẽ phải hứng chịu rủi ro rất lớn.3 Các chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp Stephen và cộng sự (2003) cho rằng để đánh giá CTV của doanh nghiệp thì cần căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, nó được thể hiện qua các hệ số nợ, hệ số nợ trên VCSH và hệ số tự tài trợ.1 Hệ số nợ Hệ số nợ thể hiện sử dụng nguồn vốn vay của doanh nghiệp hay mức độ tài trợ của nợ vay cho tài sản của doanh nghiệp.
Hệ số này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ và rủi ro gặp phải của doanh nghiệp. Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động (Firer và cộng sự, 2004). Hệ số nợ được đo lường với công thức như sau: 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒏ợ 𝒑𝒉ả𝒊 𝒕𝒓ả 𝑵ợ 𝒏𝒈ắ𝒏 𝒉ạ𝒏+𝑵ợ 𝒅à𝒊 𝒉ạ𝒏 Hệ số nợ tổng quát = = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 Nguồn: Firer và cộng sự (2004) Firer và cộng sự (2004) cho rằng khi tỷ số nợ của doanh nghiệp lớn hơn 50% có nghĩa là tài sản hiện nay đang được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn là VCSH và ngược lại nếu tỷ số này thấp hơn 50% thì VCSH đang tài trợ cho tài sản nhiều 13 hơn. Xét về khía cạnh tài chính thì hệ số này càng lớn có nghĩa là doanh nghiệp đang đứng trước rủi ro về sức ép thanh toán gốc, lãi nợ cho các đơn vị khác rất nhiều nên dễ rơi vào tình cảnh khó khăn.
Do đó, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà cần phải có quyết định sử dụng nợ một cách đúng đắn về kỳ hạn lẫn số tiền vay.2 Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu Hệ số nợ trên VCSH thể hiện cơ cấu giữa hai nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp đó là nợ và VCSH, đây là hai nguồn mà doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của mình. Hai nguồn vốn này sở hữu những đặc điểm riêng biệt và có mối quan hệ với nhau được dùng để đánh giá CTV (Macguigan và cộng sự, 2006). Hệ số này được tính như sau: 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒏ợ 𝒑𝒉ả𝒊 𝒕𝒓ả Hệ số nợ tổng quát = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒗ố𝒏 𝒄𝒉ủ 𝒔ở 𝒉ữ𝒖 Nguồn: Macguigan và cộng sự (2006) Nếu hệ số này càng lớn hơn 1 có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao hơn VCSH trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, hay nợ phải trả đóng vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp. Đồng thời, cũng thể hiện doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn về việc thanh toán các khoản nợ kèm theo lãi (Macguigan và cộng sự, 2006).3 Hệ số tự tài trợ Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
Hệ số này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tài chính bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao do đó rủi ro của doanh nghiệp càng thấp (Stephen và cộng sự, 2003). Hệ số này được tính theo công thức sau: 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒗ố𝒏 𝒄𝒉ủ 𝒔ở 𝒉ữ𝒖 Hệ số tự tài trợ = 𝑻ổ𝒏𝒈 𝒕à𝒊 𝒔ả𝒏 Nguồn: Stephen và cộng sự (2003) Hệ số này có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ về mặt tài chính và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu càng cao, do đó rủi ro kinh doanh của doanh 14 nghiệp càng thấp. Nếu hệ số này lớn hơn 50% tức là nguồn vốn của doanh nghiệp phần lớn được tài trợ từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông. Các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính của doanh nghiệp sẽ có các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của doanh nghiệp được đo lường căn cứ vào giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hoặc giá trị thị trường.
Titman và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, vì vậy việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính. Tuy nhiên, do việc xác định giá trị thị trường của nguồn vốn nợ tương đối khó khăn nên hầu hết các nghiên cứu về chi tiêu tài chính doanh nghiệp chỉ đo lường nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp theo giá trị thị trường, còn nguồn vốn nợ được xác định căn cứ vào giá trị sổ sách kế toán. Tóm lại, tại luận văn này thì chỉ tiêu đại diện cho CTV của doanh nghiệp được sử dụng là hệ số nợ. Vì chỉ tiêu này giúp doanh nghiệp đánh giá được khả năng tài chính, khả năng trả nợ và rủi ro gặp phải của doanh nghiệp.
Đặc biệt hệ số này tính đến sự đặc thù của lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp hoạt động (Firer và cộng sự, 2004). Mặt khác, chi phí sử dụng nợ luôn thấp hơn chi phí sử dụng VCSH, do đó vay nợ luôn được các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng.2 Các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn 2.