CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU 1. Rủi ro tỷ giá hối đoái trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu 1. Khái niệm rủi ro Rủi ro là một khái niệm quen thuộc, tuy nhiên chưa có một định nghĩa thống nhất cụ thể nào cho rủi ro. Ở các trường phái khác nhau, rủi ro được nhìn nhận bằng các góc độ khác nhau.
Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất mất mát nguy hiểm. Khi nhắc đến rủi ro, người ta thường chú ý điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến gây hậu quả xấu cho con người. Ví dụ trong lý thuyết kinh doanh bảo hiểm, rủi ro được định nghĩa là “Những tai nạn, sự cố xảy ra gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm”. Tuy nhiên, ngày nay, nhận thức về rủi ro của con người đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn.
Ở trường phái hiện đại, các nhà kinh tế học đã đưa ra những khái niệm rủi ro như là sự bất trắc có thể đo lường được. Theo Irving Preier: “Rủi ro là một tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” “Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến”. Như vậy, có thể thấy, ở trường phái hiện đại, rủi ro được xem vừa có tính tiêu cực, vừa có tính tích cực, vừa có thể đem lại những mất mát, nguy hiểm nhưng cũng có thể mang lại những lợi ích, những cơ hội cho con người. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp, cách phòng ngừa những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lại.
Bên cạnh những đặc điểm chung của rủi ro đã nêu ở trên thì trong mỗi lĩnh vực, rủi ro có những đặc điểm riêng biệt. Trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, rủi ro thường phải gặp đến thường là sự xa cách về vị trí địa lý, sự SV: Nguyễn Thanh Thư Lớp: CQ 54/08.04 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính khác biệt về văn hóa chính trị, sự chênh lệnh giữa giá trị các đồng tiền thanh toán,.Trong phạm vi luận văn nghiên cứu, em xin đưa ra khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu như sau: Rủi ro trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu là những biến cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra trong quá trình kinh doanh nhập khẩu, có thể gây ra những mất mát, thiệt hại làm sụt giảm lợi nhuận trong kinh doanh nhập khẩu nhưng cũng có thể mang lại những cơ hội thuận lợi, gia tăng lợi nhuận. Khái niệm rủi ro Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái thể hiện mối quan hệ về giá trị tiền tệ giữa hai đồng tiền khác nhau. Tỷ giá hối đoái là mối quan hệ so sánh sức mua giữa các dồng tiền với nhau, là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng một số đơn vị tiền tệ nước kia.
Rủi ro tỷ giá hối đoái là rủi ro phát sinh do sự biến động tỷ giá, gây ra sự chênh lệch giữa giá trị thực tế với giá trị dự kiến của hợp đồng làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng trong tương lai. Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam có một khoản phải trả bằng đồng USD trong vòng 3 tháng tới trị giá 10000 USD, thời điểm hiện tại tỷ giá 1 USD= 20000VND. Tuy nhiên sau 3 tháng, tại thời điểm thanh toán giá 1 USD= 21000VND, như vậy khoản phải trả của doanh nghiệp đã tăng lên 10000000VND. Qua ví dụ cho thấy rủi ro mà tỷ giá hối đoái mang đến cho doanh nghiệp Rủi ro tỷ giá hối đoái có thể gặp nhiều trong nhiều hoạt động khác nhau của doanh nghiệp, đặc biệt là các hoạt động có giao dịch bằng ngoại tệ.
Trong các nghiệp vụ nhập khẩu, rủi ro tỷ giá hối đoái xảy ra khi ngoại tệ mà nhà nhập khẩu phải trả trong tương lai tăng giá so với nội tệ, trong khi đối với các nhà xuất khẩu rủi ro tỷ giá xảy ra khi ngoại tệ thu được khi xuất khẩu giảm SV: Nguyễn Thanh Thư Lớp: CQ 54/08.04 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính giá so với nội tệ. Sự biến động của tỷ giá sẽ làm cho giá trị của hợp đồng trở nên khó xác định, tạo nên khó khăn trong việc quản lý lợi nhuận, ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh. Vì vậy các doanh nghiệp cần có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa rủi ro tỷ giá để đảm bảo hoạt động kinh doanh được ổn định và hạn chế rủi ro. Phân loại rủi ro tỷ giá hối đoái Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thường phải đối mặt với bốn loại rủi ro tỷ giá chính: Rủi ro tài chính: rủi ro tài chính phát sinh khi một người nắm giữ ngoại tệ như tài sản.
Giá trị của tài sản ngoại tệ nắm giữ so với tài sản tính bằng đồng tiền hiệu lự của người giữa sẽ thay đổi khi tỷ giá giữa ngoại tệ và đồng tiền hiệu lực thay đổi. Rủi ro chuyển đổi: rủi ro chuyển đổi đặc trung phát sinh khi chuyển đổi các bản báo cáo tài chính từ dồng tiền hiệu lực sang những đồng tiền khác cho mục đích thông tin hay so sánh. Bảng cân đối kế toán thể hiện giá trị sổ sách của tài sản, nguồn vốn và các cổ phần ở cuối giai đoạn báo cáo (tỷ giá giao ngay) thường không phải là tỷ giá có hiệu lực khi các tài khoản được ghi nhận. Rủi ro giao dịch (còn gọi là rủi ro thực hiện): rủi ro giao dịch phát sinh khi một bên đồng ý mua hay bán hàng hóa với một ngoại tệ nhất định vào một ngày xác định, nhưng thực sự thanh toán hay nhận thanh toán vào một ngày sau đó.
Nếu tỷ giá thay đổi trong khoảng thời gian ở giữa, giá của thương vụ bán hoặc mua bằng đồng tiền hiệu lực sẽ thay đổi. Rủi ro giao dịch phát sinh khi một doanh nghiệp đồng ý mua hoặc bán ở một giá ngoại tệ nhất định. Rủi ro kinh tế (còn gọi là rủi ro vận hành hay rủi ro cạnh tranh): rủi ro kinh tế phát sinh khi thay đổi trong tỷ giá hối đoái làm cho thay đổi sức cạnh tranh của một doanh nghiệp. Rủi ro này thường xảy ra khi doanh nghiệp có doanh thu bằng một đồng tiền và gánh chịu chi phí bằng một đồng tiền khác.
SV: Nguyễn Thanh Thư Lớp: CQ 54/08.04 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính giao dịch vay và cho cho vay trên thị trường tiền tệ để cố định các khoản phải thu hoặc phải trả sao cho chúng khỏi lệ thuộc vào sự biến động tỷ giá. Ví dụ: Ngày 15/07/2010 DN ký hợp đồng, thanh toán bằng USD, thời hạn sau 6 tháng (15/01/2011). Với dự báo là tỷ giá giảm tại thời điểm thanh toán, nên sẽ có lợi hơn khi bán USD ngay bây giờ. DN tìm hiểu lãi suất thị trường rồi vay ngân hàng một số tiền USD với thời hạn 6 tháng.
Số tiền vay bằng USD này được tính sao cho khi đáo hạn, tổng thanh toán cả nợ và lãi trả cho ngân hàng bằng giá trị hợp đồng đã ký kết. Số tiền này có thể được coi chính là doanh thu của DN. DN chuyển toàn bộ số USD thành VND để sử dụng cho mục đích kinh doanh hoặc đơn giản là gửi ngân hàng lấy lãi suất tiết kiệm. Khi kết thúc hợp đồng, tiền thu được sẽ dùng để trả cho ngân hàng.
Như vậy bằng các giao dịch vay mượn và mua bán trên thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, DN biết chắc được mình sẽ thu được bao nhiêu VND từ hợp đồng XK, do đó, tránh được rủi ro sự biến động của tỷ giá. Tuy nhiên, hiệu quả của công cụ này phụ thuộc nhiều vào khả năng chi trả đúng hạn của khách hàng. Lựa chọn các công cụ phái sinh trên thị trường tiền tệ Ngoài ra DN còn có thể lựa chọn các công cụ phái sinh do các ngân hàng cung cấp để thực hiện bảo hiểm tỷ giá, phòng tránh rủi ro có thể xẩy ra. Lâu nay, theo xu hướng chung của thế giới, tất cả các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đều triển khai các nghiệp vụ giao dịch hối đoái như: + Forward (giao dịch kỳ hạn): Là giao dịch trong đó hai bên cam kết sẽ mua, bán với nhau một lượng ngoại tệ theo một tỷ giá xác định và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai.
Khách hàng có thể xác định tỷ giá ngay tại thời điểm ký hợp đồng và hạn chế một phần rủi ro biến động tỷ giá. Loại hình này thích hợp với các DN có kế hoạch thu chi ngoại tệ ổn định, ít có kinh nghiệm về sự biến động tỷ giá hàng ngày. SV: Nguyễn Thanh Thư Lớp: CQ 54/08.04 Luận văn Tốt nghiệp Học viện Tài chính + Swap (giao dịch hoán đổi): Là giao dịch đồng thời mua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có 2 ngoại tệ được sử dụng trong giao dịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giao dịch được xác định tại thời điểm ký hợp đồng. Giao dịch này cho phép DN tận dụng lợi thế lãi suất của các đồng tiền và quản lý hiệu quả nguồn vốn ngoại tệ của mình.
+ Option (giao dịch quyền lựa chọn): Là giao dịch giữa bên mua quyền và bên bán quyền, trong đó bên mua quyền có quyền nhưng không có nghĩa vụ mua hoặc bán một lượng ngoại tệ xác định ở một mức tỷ giá xác định trong một khoảng thời gian thỏa thuận trước. Nếu bên mua quyền lựa chọn thực hiện quyền của mình, bên bán quyền có nghĩa vụ bán hoặc mua lượng ngoại tệ trong hợp đồng theo tỷ giá thỏa thuận trước. Loại giao dịch này tối ưu hóa việc phòng ngừa rủi ro tỷ giá, phù hợp với DN có kế hoạch thu chi ngoại tệ ổn định, có kinh nghiệm theo dõi biến động tỷ giá ngoại tệ hàng ngày. Đây được coi là công cụ hiệu quả nhất và được sử dụng khá phổ biến trên thế giới.3 Các biện pháp giảm thiểu tổn thất Đây là biện pháp để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro mang lại, bao gồm: cứu vớt những tài sản còn sử dụng được, chuyển nợ, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, dự phòng, phân tán rủi ro.