mở đầu một cuộc khủng hoảng kinh tế. b1) Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với ngân hàng. Tuy nhiên, tựu trung lại có thể phân làm 3 nhóm sau: - Nhóm nguyên nhân khách quan. - Nhóm nguyên nhân chủ quan từ phía ngƣời đi vay.
-Nhóm nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngân hàng. Nguyên nhân khách quan, bất khả kháng: Đây là những biến cố từ môi trƣờng tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, công nghệ tác động đến khả năng trả nợ của ngƣời vay. Những nhân tố nhƣ thiên tai, động đất, bão lụt, khủng khoảng kinh tế vĩ mô, hoặc thay đổi chính sách vĩ mô có tác động lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, vƣợt quá tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng. Nguyên nhân chủ quan từ phía khách hàng đi vay: Trình độ yếu kém của ngƣời vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo, hoặc kinh doanh mạo hiểm, thiếu thiện chí trả nợ… là những nguyên nhân gây rủi ro tín dụng.
Dự báo và nhận diện những rủi ro tiềm ẩn thuộc về chủ quan của ngƣời vay là một trong những nội dung cốt lõi của phân tích tín dụng mà các NHTM theo đuổi. Các khuôn khổ về phân tích tín dụng đƣợc ngân hàng sử dụng khi thẩm định, đánh giá một khoản vay nhằm phát hiện và đánh giá khả năng gây ra tổn thất do những nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngƣời vay. Tuy nhiên, các ngân hàng cũng không thể luân luân đánh giá đúng các rủi ro này. Nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngân hàng Những nguyên nhân thƣờng thấy là thiếu thông tin về khách hàng vay, năng lực cán bộ chƣa cao, bỏ qua hoặc xem nhẹ các nguyên tắc hạn chế rủi ro, thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm sai, không tuân thủ quy trình nghiệp vụ… b2) Quan trị rủi ro tín dụng LUẬN VĂN THẠC SỸ 12 ĐINH VĂN CHUYỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề nổi cộm của các ngân hàng.Mỗi ngân hàng đều phải rút ra các bài học cho mình từ những kinh nghiệp quá khứ.
Để quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thƣờng sử dụng một số công cụ sau: - Chính sách tín dụng: chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố căn bản, là nền tảng để quản trị tín dụng hiệu quả. Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định hƣớng cho cán bộ ngân hàng, những ngƣời làm công tác cho vay và quản trị danh mục đầu tƣ. Chính sách đƣợc xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ trên xuống dƣới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh. Các tổ chức giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới đều coi một chính sách tín dụng đƣợc xây dựng đúng đắn là điều kiện thiết yếu để quản trị tốt rủi ro tín dụng.
- Giới hạn cấp tín dụng: để hạn chế rủi ro, mỗi ngân hàng nên quy định hạn mức cấp tín dụng tối đa cho từng cấp quản trị (mức phán quyết). Mức phán quyết có thể đƣợc quy định cho các chi nhánh ngân hàng, các phòng giao dịch, tùy theo quy mô hoạt động, năng lực làm việc của chi nhánh; theo loại sản phẩm tín dụng, tính chất có hay không có tài sản bảo đảm của khoản vay. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần xác định một mức giới hạn tín dụng đối với từng khách hàng riêng biệt. Nó đƣợc hiểu là mức tín dụng an toàn tối đa, trong đó doanh nghiệp quản trị hiệu quả đƣợc hoạt động của mình và ở mức này ngân hàng có thể chịu đƣợc rủi ro đối với doanh nghiệp là thấp nhất.
Giới hạn tín dụng đƣợc xác định trên cơ sở chính sách tín dụng từng thời kỳ, xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp, ngành nghề và quy mô hoạt động của họ, khả năng cung ứng vốn và quản trị vốn của ngân hàng. - Đánh giá khoản vay: Định giá khoản vay là một công cụ vô cùng quan trọng trong tiến trình quản trị rủi ro tín dụng khi quyết định cho vay đã đƣợc đƣa ra. Thông thƣờng thu nhập mà một khoản vay mang lại cho ngân hàng gồm có: tiền lãi vay và phí. Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải đƣợc xác định ở mức đảm bảo bù đắp đƣợc chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, phần lợi nhuận mong muốn và phần LUẬN VĂN THẠC SỸ 13 ĐINH VĂN CHUYỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ bù rủi ro của khoản vay.
Tùy thuộc vào chính sách của mình, ngân hàng sẽ xác định mức lãi suất với phần bù rủi ro hợp lý. - Xếp hạng tín dụng: các ngân hàng cần định kỳ thực hiện xếp hạng lại tín dụng cho khách hàng (mức độ rủi ro của khách hàng), đánh giá lại món vay và tài sản bảo đảm để từ đó có mức phân bổ dự phòng, điều chỉnh lại giới hạn cấp tín dụng cho khách hàng cho phù hợp hoặc thực hiện những biện pháp cần thiết nhằm thu hồi nợ trƣớc hạn nếu phát hiện ra khoản vay, tài sản bảo đảm có dấy hiệu bất thƣờng ảnh hƣởng đến khả năng thu hôi nợ vay. - Tài sản bảo đảm: tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp cho khoản vay nếu dự án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro, dòng tiền của khách hàng không đúng nhƣ dự kiến. Tuy nhiên, khoản vay sẽ phải đƣợc thanh toán bằng tiền tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng phát mại tài sản bảo đảm, nên tài sản bảo đảm mới là điều kiện cần chứ chƣa phải là điều kiện đủ để cho vay.
- Đa dạng hóa danh mục đầu tƣ: một danh mục khác luôn đƣợc nhắc đến của quản trị tín dụng ở tất cả các ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tƣ. Quản trị danh mục đầu tƣ làm cân đối và kiềm chế rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro của từng thị trƣờng, ngân hàng, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau. Nhiều chuyên gia ngân hàng cho rằng đa dạng hóa danh mục đầu tƣ là giải pháp hữu hiệu trong phòng ngừa rủi ro tín dụng. b3) Hạn chế rủi ro tín dụng là lý do cần xếp hạng tín dụng khách hàng vay vốn tại các NHTM Có thể nói hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trƣờng là một trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết.Rủi ro đƣợc xem nhƣ một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của NHTM.
Rủi ro trong cho vay còn đƣợc nhân lên gấp đôi, bởi ngân hàng không những phải hứng chịu rủi ro do nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt động ngân hàng có thể gây ra tai họa to lớn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro của các loại hình doanh nghiệp khác. Tính chất lan truyền của nó có thể làm ảnh hƣởng đến toàn bộ hệ thống kinh tế. LUẬN VĂN THẠC SỸ 14 ĐINH VĂN CHUYỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ Hoạt động thƣơng mại gồm có nhiều loại nghiệp vụ, nhƣng tựu chung lại, đây là loại hình kinh doanh tiền tệ- tín dụng của một trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng (dƣới hình thức nhận tiền gửi, huy động bằng trái phiếu, kỳ phiếu, đi vay…) với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán.
NHTM tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông qua việc sử dụng không chỉ bằng vốn tự có mà chủ yếu bằng vốn huy động từ khách hàng. Nếu NHTM không thu hồi đƣợc số nợ mà họ đã cho vay thì NHTM không những bị mất vốn tự có của mình mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả đƣợc số tiền đã huy động của khách hàng. Vì vậy, tính chất trung gian tài chính đặt ra yêu cầu đối với NHTM là phải thƣờng xuyên thu hồi đƣợc số vốn đã cho vay để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn vốn tự có của bản thân. Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng khó khăn, rủi ro của nó ngày càng lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro đó để bảo đảm an toàn cho hoạt động của NHTM.
Trong xu hƣớng đó, xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng là công việc ngày càng đƣợc chú ý trọng rãi trong hoạt động tín dụng ngân hàng, giúp ngân hàng có thêm căn cứ để xác định đối tƣợng cho vay, lãi suất cho vay cũng nhƣ vấn đề tài sản bảo đảm và các vấn đề khác. Trên cơ sở phân tích, đánh giá các doanh nghiệp vay vốn, chúng ta có thể hạn chế rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Khái niệm về XHTD khách hàng Hiện nay có nhiều thuật ngữ đƣợc sử dụng để chỉ việc thực hiện đánh giá, xếp hạng khách hàng vay vốn tại NHTM nhƣ: xếp hạng ngƣời vay, xếp hạng rủi ro ngƣời vay, xếp hạng rủi ro tín dụng… Tuy nhiên từ gốc tiếng anh “Credit rating” khi dịch sang tiếng việt có nhiều nghĩa: xếp hạng rủi ro, xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng doanh nghiệp, đôi khi gây một số nhầm lẫn. Xếp hạng tín nhiệm và xếp hạng tín dụng đều có nghĩa tiếng anh nhƣ nhau nhƣng chúng không đồng nhất.Xếp hạng tín nhiệm là một phạm trù lớn hơn xếp hạng tín dụng, mặc dù chúng đều có nghĩa là cách đánh giá khả năng trả nợ trong tƣơng lai.
Theo Moody’s LUẬN VĂN THẠC SỸ 15 ĐINH VĂN CHUYỂN TRƢỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ “ xếp hạng tín nhiệm là đánh giá khả năng chi trả đúng hạn của khách hàng đối với một nghĩa vụ nợ hiện tại và tƣơng lai”, nó đƣợc thực hiện bởi một công ty xếp hạng tín nhiệm độc lập.