Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thẻ tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Quế Võ Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam - Chi nhánh Khu công nghiệp Quế Võ 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan dịch vụ thẻ tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm, nội dung và đặc điểm dịch vụ thẻ tại ngân hàng 1.
Khái niệm về dịch vụ thẻ tại ngân hàng a. Khái niệm về thẻ ngân hàng Thẻ ngân hàng được hiểu như một phương tiện thanh toán được sử dụng để thực hiện dịch vụ thanh toán qua ngân hàng bên cạnh các phương tiện thanh toán khác như tiền mặt, séc, lệnh chi (ủy nhiệm chi), ủy nhiệm thu. Với những tính năng ưu việt như gọn nhẹ, an toàn, thuận lợi, thẻ ngân hàng đã và đang được sử dụng khá phổ biến ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Đặc điểm của thẻ ngân hàng: Thẻ ngân hàng thông thường được thiết kế là một miếng nhựa (plastic) có kích thước tiêu chuẩn (thường là 8,5*5,5 cm) và có một băng từ ở mặt sau lưu trữ thông tin về chủ thẻ, cũng có thể có chíp điện tử để lưu trữ các thông tin, dữ liệu khác.
Trên chiếc thẻ nhựa thường có tên hoặc logo của tổ chức phát hành thẻ, tên chủ thẻ, ngày hiệu lực của thẻ, số thẻ, logo của tổ chức thẻ quốc tế (như Visa, MasterCard, JCB) hoặc tổ chức chuyển mạch thẻ trong nước (như Banknetvn). Chủ thẻ cần lưu ý ký chữ ký của mình vào dải trống được thiết kế trên mặt sau của tấm thẻ. Ngoài ra, trên thẻ còn có một số thông tin hữu ích khác như số điện thoại chăm sóc khách hàng, website của tổ chức phát hành thẻ để chủ thẻ có thể liên hệ trong các trường hợp cần thiết. Trên thế giới hiện nay đã xuất hiện loại thẻ phi vật lý (thẻ ảo) mà tổ chức phát hành thẻ cấp cho chủ thẻ để giao dịch qua internet, điện thoại di động mà không cần in ra thẻ vật lý (thẻ nhựa thông thường).
Tại Việt Nam cũng đã có một vài ngân hàng thí điểm thử nghiệm loại thẻ này. Theo Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, khái niệm thẻ ngân hàng được quy định: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. 9 Từ những phân tích trên, tác giả khái niệm: Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng. Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành cấp cho khách hàng để mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp tại ATM/đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ.
Hiện nay có thẻ vật lý và thẻ phi vật lý. Phân loại thẻ tại ngân hàng - Phân loại theo phạm vi lãnh thổ Thẻ nội địa: Là thẻ do các Ngân hàng tại Việt Nam phát hành để sử dụng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Với đặc điểm như vậy thẻ nội địa bao gồm thẻ trả trước và thẻ ghi nợ. Thẻ quốc tế: Là thẻ do các Ngân hàng tại Việt Nam phát hành để giao dịch trong và ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc là thẻ do các tổ chức ngân hàng nước ngoài phát hành và giao dịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Trong Luận văn này, tác giả nghiên cứu thẻ quốc tế do Ngân hàng tại Việt Nam phát hành. Thẻ quốc tế thường là thẻ mang thương hiệu của các tổ chức thẻ quốc tế mà ngân hàng tại Việt Nam là các đại lý phát hành. Để phát hành thẻ quốc tế, ngân hàng phát hành thẻ phải đăng ký và được chấp nhận làm thành viên của Tổ chức thẻ quốc tế, tuân thủ chặt chẽ các quy định trong việc phát hành và thanh toán thẻ do Tổ chức thẻ quốc tế đó ban hành. Có 3 loại thẻ quốc tế là: Thẻ tín dụng quốc tế, thẻ ghi nợ quốc tế và thẻ trả trước quốc tế.
- Phân theo đặc tính kỹ thuật Thẻ từ (Magnetic Stripe): Thẻ từ là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước của thẻ vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ. Các thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau. Thẻ từ hiện nay đang chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường. Loại thẻ này được sử dụng phổ biến trong vòng 20 năm nay nhưng trong thời đại trình độ khoa học công nghệ phát triển cao nó cũng đã bộc lộ một số nhược điểm như: Tính bảo mật không an toàn, kẻ gian có thể lợi dụng đọc được thông tin và làm thẻ giả, hoặc tạo các 10 giao dịch giả gây thiệt hại cho chủ thẻ và ngân hàng.
Hiện tại 100% thẻ nội địa hoặc một số loại thẻ quốc tế của các Ngân hàng tại Việt Nam phát hành là thẻ từ. Thẻ chip/thẻ thông minh (Smart card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn vào thẻ một chip điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo. Phổ biến hiện nay thẻ thông minh có cả Chip điện tử và băng từ. Chip điện tử độc lập với thẻ và được gắn trên bề mặt của thẻ, về bản chất gồm 2 loại chip: Chip bộ nhớ và chip xử lý dữ liệu.
- Phân loại theo phương thức thanh toán Thẻ ghi nợ (Debit Card): Là thẻ cho phép chủ thẻ giao dịch trên cơ sở số dư trên tài khỏan tiền gửi thanh toán của chủ thẻ mở tại Ngân hàng. Mức chi tiêu của chủ thẻ phụ thuộc vào số dư trong tài khoản. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho chủ thẻ trong giao dịch, tổ chức phát hành có thể cho phép chủ thẻ chi tiêu hoặc rút tiền vượt quá số dư trong một khoảng thời gian nhất định, tùy thuộc vào mối quan hệ khách hàng, hình thức này gọi là thấu chi. Với đặc tính này, thẻ ghi nợ là loại thẻ thanh toán ngay.
Do vậy, thẻ ghi nợ hiện nay là loại thẻ phổ biến nhất trên thị trường. Thẻ tín dụng (Credit Card): Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ giao dịch trên phạm vi hạn mức tín dụng đã được Ngân hàng cấp theo thỏa thuận giữa Ngân hàng và chủ thẻ. Do vậy thẻ tín dụng là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng. Do điều kiện phát hành thẻ khắt khe hơn, số lượng thẻ tín dụng hiện nay ít hơn nhiều so với thẻ ghi nợ.
Thẻ trả trước: Thẻ trả trước là loại thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi số tiền được nạp vào thẻ tương ứng với số tiền mà chủ thẻ đã trả trước cho Ngân hàng. Thẻ trả trước bao gồm thẻ trả trước định danh và thẻ trả trước vô danh. - Phân loại theo hạn mức và uy tín của thẻ Thẻ bạch kim (Platium card): Là loại thẻ dành riêng cho những khách hàng là doanh nhân thành đạt, có khả năng tài chính lớn, uy tín cao, thuộc khách hàng VIP của ngân hàng. Thẻ bạch kim mang đến cho khách hàng những tiện ích đặc biệt cao 11 cấp như giá trị hạn mức rất lớn, cung cấp dịch vụ hỗ trợ toàn cầu và nhiều ưu đãi đặc biệt.
Thẻ vàng (Gold card): Thẻ này được phát hành cho đối tượng có uy tín, có thu nhập cao, khả năng tài chính lành mạnh và nhu cầu chi tiêu lớn. Có hạn mức cao hơn thẻ thường và thấp hơn thẻ bạch kim. Thẻ thường (Classic card): Là loại thẻ căn bản nhất, mang tính chất phổ thông, được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đây là một loại thẻ phổ biến với hạn mức thấp hơn, phù hợp với khách hàng có thu nhập trung bình.
Hạn mức quy định tối thiểu tùy thuộc vào tổ chức phát hành thẻ quy định trong từng thời kỳ. Khái niệm dịch vụ thẻ tại ngân hàng Theo Luật giá tại Việt Nam năm 2013 “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Ngày nay, khi kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì các ngành dịch vụ cũng liên tục được đổi mới, đa dạng hóa về sản phẩm và tính năng. Một trong các dịch vụ điển hình đó là dịch vụ ngân hàng.
Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng như tiền gửi, tiền vay, thanh toán chuyển tiền, thẻ và ngân hàng điện tử, dịch vụ ủy thác, tư vấn, bảo hiểm, kho quỹ,. sản phẩm ngân hàng được thể hiện dưới dạng dịch vụ nên cũng có những đặc trưng cơ bản như các loại hình dịch vụ khác đó là: Tính vô hình, tính không thể tách rời khỏi nguồn gốc, tính không ổn định về chất lượng, tính không lưu giữ được. Trong đó, dịch vụ thẻ tại ngân hàng là một trong các sản phẩm chính của ngân hàng đang ngày càng được chú trọng phát triển ở các NHTM. Dịch vụ thẻ là một loại hình dịch vụ thuộc nhóm các dịch vụ bán lẻ của NHTM, đây là dịch vụ mà trong đó ngân hàng cung cấp một công cụ thanh toán là thẻ thanh toán cho khách hàng bán lẻ.
Dịch vụ thẻ giúp cho ngân hàng đa dạng hóa loại hình dịch vụ, gia tăng thu nhập cho ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thương trường. 12 Dịch vụ thẻ là dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển cùng với ngân hàng điện tử và thương mại điện tử mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng có thể chi tiêu một cách an toàn, thuận tiện, chủ động mà không dùng đến tiền mặt. Vậy, Dịch vụ thẻ được hiểu là một loại hình dịch vụ được phát triển dựa trên sự tích hợp của thương mại điện tử và công nghệ thông tin, trên cơ sở sự phát triển của khoa học công nghệ.