Chương 1: TÔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hoạt động tín dụng Theo tác giả Cao Thị Ý Nhỉ (2016, tr.149) đã chỉ ra“bàn chất tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả và có lãi suất. Trong quan hệ tín dụng người cho vay chỉ nhường quyền sử dụng vốn cho người đi vay trong một thời gian nhất định chứ không nhường quyền sở hữu và người đi vay phải hoàn trả cho.
người cho vay khi đến hạn đã thỏa thuận”. “Trong nền kinh tế có các cá nhân/tổ chức có nhu cầu tiêu dùng/đầu tư vượt quá vốn/thu nhập của mình; cũng có các cá nhân/tô chức có thu nhập/vốn lớn hơn nhu cầu tiêu dùng/đầu tư hiện tại và có khoản tiền nhàn rỗi. Trong hoàn cảnh đó, người cho vay sẽ chuyền giao quyền sử dụng vốn của mình cho người đi vay, sau thời hạn nhất định người cho vay sẽ được nhận lại nguồn vốn của mình và phần lợi tức như đã cam kết ban đầu với người đi vay. Tuy nhiên, mối quan hệ này bị giới hạn và kìm hãn do không phù hợp về thời gian, không gian, quy mô và sự tin tưởng lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay.
giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Do đó, ngân hàng xuất hiện đóng vai trò là trung gian tài chính giúp tập trung và điều hòa vốn trong nên kinh tế. Quá trình phát triển của nền kinh tế đã tạo. điều kiện cho sự phát triển của ngành ngân hàng, mặt khác chính sự phát triển của ngành ngân hàng đã thúc đây sự phát triển của nền kinh tế.
Phân loại tín dụng của ngân hàng thương mại 'Tín dụng ngân hàng có thẻ được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau như sau: (1) Dựa trên thời hạn tín dụng: Tín dụng bao gồm tín dụng ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, sở dĩ ngân hàng phân loại các khoản tín dụng theo thời gian là vì thời gian có ảnh hưởng đến sự an toàn, khả năng sinh lợi của khoản vay và đặc biệt là khả năng hoàn trả gốc và lãi của người đi vay. ~ Tín dụng ngắn hạn là những khoản tín dụng có thời hạn tín dụng nhỏ hơn một (1) năm, những khoản tín dụng này thường để phục vụ nhu cà của các cá nhân hoặc bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và vốn vay giữa các ngân hàng; đây là khoản tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong các ngân hàng thương mại do ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của cá nhân/tổ chức đi vay; ~ Tín dụng trung hạn là những khoản tín dụng có thời hạn tín dụng trên một (1) năm nhưng dưới năm (5) năm; các khoản vay này được cung cấp cho mua sim tài sản cố định nhằm. kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có. thời gian thu hồi vốn nhanh; ~ Tín dụng dài hạn là những khoản tín dụng có thời hạn tín dụng trên năm (5) năm.
Các khoản tin dung nay dé tai trợ cho các hoạt động xây dựng cơ bản, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh lớn. Do thời hạn dài, mức độ rủi ro cao nên lãi suất áp dụng cho các khoản vay này thường cao hơn tín dụng ngắn hạn và tín dụng trung hạn. (2) Dựa trên nghiệp vụ của ngân hàng có thể phân chia hoạt động tín dụng bao gồm: Nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. ~ Nghiệp vụ cho vay là hoạt động ngân hàng chuyển cho khách hàng cá nhân/tổ chức một khoản tiền, người đi vay sẽ cam kết hoàn trả lại tiền gốc và một khoản tiền lãi cho ngân hàng sau một thời gian nhất định.
Trong khoản mục tín dụng, cho vay chiếm một một tỷ trọng lớn; - Chiết khấu là việc ngân hàng mua trong một kỳ hạn nhất định các giầy tờ có giá, công cụ chuyển nhượng của khách hàng mà các giấy tờ này chưa đến hạn thanh toán; ~ Cho thuê tài chính là khách hàng thuê lại những tài sản cố định do ngân hàng mua theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên; - Bảo lãnh là việc ngân hàng bảo đảm với bên nhận bảo lãnh là ngân hàng. sẽ thực hiện các nghĩa vụ tài chính mà khách hàng chưa thực hiện được. Khách hàng sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả với Ngân hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký kết. (3) Dựa trên tiêu chí đảm bảo mà phân loại tín dụng có tài sản đảm bảo và tín dụng không có tài sản đảm bảo: Về bản chất, tắt cả các khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo, có thể đảm bảo đó là các đảm bảo mà ngân hàng có thể bán đi để thu hồi ng trong trường hợp khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng.
Bên cạnh đó cũng có khi đảm bảo là cam kết của khách hàng, cũng có khi là của người thứ ba về việc thanh toán khoản nợ cho khách hàng. Tuy nhiên tín dụng không có tài sản đảm bảo chỉ áp dụng cho một số đối tượng nhất định. (4) Dựa trên mức độ rủi ro mà có thê phân loại tín dụng thành: Nợ quá hạn, nợ đủ tiêu chuan va nợ có vấn đề ~ Nợ đủ tiêu chuẩn là các khoản nợ mà ngân hàng có khả năng thu hồi gốc và lãi, đối tượng khách hàng vay vốn có tình hình tài chính én định, không có nợ. qua han; - Nợ có vấn đề là nợ mà vấn đề ở khách hàng có nhiều khả năng ảnh hưởng.
đến khả năng trả nợ của khách hàng, ví dụ như khách hàng đang gặp khó khăn trong. ban san phâm, tiến độ dự án đang bị chậm,. ~ Nợ quá hạn là các khoản nợ đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng không hoặc chưa trả được. Nợ quá hạn được phân loại thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi.
(5) Căn cứ vào lĩnh vực sử dụng của khoản vay mà có thể phân loại tín dụng bao gồm: Tín dụng bất động sản, tín dụng nông nghiệp, tín dụng công thương nghiệp. Quy trình tín dụng trong ngân hàng thương mại Tín dụng là hoạt động cơ bản và chủ yếu của một ngân hàng, mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, để việc thực thi các chính sách tín dụng một cách có hiệu quả, bài bản thì việc xây dựng một quy trình tín dụng chặt chẽ, phù hợp với từng đối tượng khách hàng và khoản vay là việc cần thiết. Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2014, tr.161) đã nêu “Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hỗ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. Quy trình tín dụng chỉ rõ mối quan hệ giữa các bộ phận có liên quan trong hoạt động tín dung.
Quy trình tín dụng là căn cứ cho việc phân định rõ trách nhiệm và quyên hạn của từng bộ phận liên quan trong hoạt động tín dụng, là cơ sở cho việc thiết lập các hỗ sơ và thủ tục vay vốn vẻ mặt hành chính” Có thể thấy quy trình tín dụng là quy định cụ thể trình tự thủ tục đối với một khoản vay đảm bảo cho hoạt động tín dụng của ngân hàng được khoa học, tránh được sự thiếu sót trong quá trình thẩm định. Bên cạnh đó quy trình tín dụng giảm thiểu rủi ro của các khoản vay, tạo sự thống nhất cao, tránh trùng lặp nhiệm vụ của các bộ phận trong ngân hàng; đảm bảo sự giám sát của ngân hàng đối với khách hàng và khoản vay từ đó tăng cường chất lượng tín dụng. Một quy trình tín dụng được xác lập bởi một đội ngũ những cán bộ có kinh nghiệm làm tín dụng, am hiểu về các khâu trong hoạt động tín dụng, có chuyên môn nghiệp vụ cao. Vì vậy, một quy trình tín dụng tốt góp phần tăng hiệu quả hoạt động một ngân hàng do vậy việc không ngừng sửa đổi và hoàn thiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với một Ngân hàng thương mại.
Một quy trình tín dụng căn bản Mỗi ngân hàng có đặc điểm về tổ chức và quản trị nên có quy trình tín dụng. Tuy nhiên, một quy trình tín dụng bao gồm sáu (6) bước chủ yếu, cụ thể như sau: Bước I: Lập hồ sơ vay vốn Đây là bước đầu tiên trong quy trình tín dụng. Trên cơ sở tiếp xúc và tìm hiểu nhu cầu vay vốn của khách hàng (cá nhân/tổ chức), các cán bộ tín dung (CBTD) sẽ thu thập các nội dung thông tin cần thiết của khách hàng và lập hỗ sơ vay vốn. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin chủ yếu như sau (1) Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng; (2) Khả năng sử dụng vốn vay; (3) Tài sản đảm bảo (TSĐB); (4) Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi).
Các thông tin nêu trên sẽ giúp ngân hàng nắm được tư cách pháp nhân của khách hàng, đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai, ngoài ra còn hỗ trợ ngân hàng trong việc xác định số lượng vốn cũng như khả năng sinh lợi của vốn vay đề khách hàng có thê hoàn trả gốc và lãi vay đúng hạn cho ngân hàng. Bước 2: Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng đóng vai trò là cốt lõi trong một quy trình tín dụng. Phân tích tín dụng bao gồm xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong. việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Mục tiêu của việc phân tích tín dụng là: (1) Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hang, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế những tôn thất cho ngân hàng. (2) Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước một, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay. Phương pháp khi phân tích tín dụng: các phương pháp mà ngân hàng thường. sử dụng bao gồm phân tích toàn diện khách hàng; phân tích trọng tâm, trọng điểm; phân tích nhanh; phân tích SWOT.