CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NỢ PHẢI THU VÀ QUẢN TRỊ NỢ PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP. Nợ phải thu của doanh nghiệp 1. Khái niệm: Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hoá hoặc dịch vụ. Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể đến mức không thể kiểm soát nổi.
Có thể dễ dàng nhận thấy viết kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đối giữa sinh lời, lợi nhuận và rủi ro. Một mặt, nếu không bán chịu hàng hoá thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó, mất đi lợi nhuận và giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, mặc khác nếu bán chịu hàng hoá quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng. Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu phù hợp. Khoản phải thu của doanh nghiệp phát sinh nhiều hay ít phụ thuộc và các yếu tố như tình hình nền kinh tế, giá cả sản phẩm, chất lượng sản phẩm, và chính sách bán chịu của doanh nghiệp.
Trong các yếu tố này, chính sách bán chịu ảnh hưởng mạnh nhất đến khoản phải thu. Hạ thấp tiêu chuẩn bán chịu có thể kích thích được nhu cầu dẫn tới gia tăng doanh thu, lợi nhuân, nhưng vì bán chịu sẽ làm phát sinh khoản phải thu, và do bao giờ cũng có chi phí đi kèm theo khoản phải thu nên doanh nghiệp cần xem xét cẩn trọng sự đánh đổi này. SVTH: Lê Chư Quyền Linh - 10 - Lớp: CQ54/11.08 Học Viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp Nợ phải thu bao gồm các khoản sau: 1. Phải thu của khách hàng: Phải thu khách hàng là nợ tiền mà khách hàng đã mua nợ doanh nghiệp khi khách hàng này đã được doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ nhưng chưa thanh toán tiền cho doanh nghiệp.
Tuỳ theo khả năng thu hồi, thời gian thu hồi, hình thức bảo lãnh, khách nợ thì các nợ phải thu khách hàng lại được phân ra như sau: a. Theo khả năng thu hồi, phải thu khách hàng bao gồm: - Nợ có khả năng thu hồi: Đây là những nợ phải thu vẫn còn hạn thanh toán và khách hàng vẫn đang hoạt động kinh doanh tốt. Những nợ phải thu như thế này có thể đem lại cho doanh nghiệp những mối quan hệ tốt với khách hàng là động lực thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm. - Nợ không có khả năng thu hồi (nợ khó đòi): đây là những nợ nợ đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vẫn không trả được hoặc những nợ nợ mà doanh nghiệp sau khi thẩm định thấy khách hàng không thể trả được ngay cả khi thời hạn thanh toán vẫn còn do khách hàng gặp phải một số những khó khăn không thể tiếp tục kinh doanh để trả nợ.
Việc xếp loại nợ phải thu khách hàng vào nợ khó đòi rất quan trọng vì nó liên quan tới việc xử lý nợ nợ đó khi khách hàng không thể trả nợ được, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra nợ chi phí cho việc thu hồi và phải trích lập dự phòng đề phòng rủi ro không thu hồi được nợ và có những biện pháp xử lý kịp thời tránh tổn thất cho doanh nghiệp. Ta có thể đi sâu tìm hiểu nợ khó đòi như sau: Nợ khó đòi là các nợ nợ đã quá thời hạn thanh toán, doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp xử lý như đối chiếu, xác nhận, đôn đốc thanh toán nhưng vẫn chưa thu hồi được. Các nợ phải thu được coi là các nợ nợ khó đòi khi nó đảm bảo các điều kiện sau: - Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinh tế, các khế ước vay nợ hoặc các cam kết nợ khác. SVTH: Lê Chư Quyền Linh - 11 - Lớp: CQ54/11.08 Học Viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp - Nợ phải thu chưa đến thời hạn thanh toán nhưng các tổ chức kinh tế (các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, tổ chức tín dụng…) đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết.
- Những nợ nợ quá hạn từ 3 năm trở lên coi như không có khả năng thu hồi và được xử lý theo qui định. Phân loại nợ quá hạn: Ta có thể dựa vào <tuổi= của các nợ nợ cùng với tình hình hoạt động của doanh nghiệp để phân loại nợ khó đòi. Theo cách đó ta có 2 loại nợ khó đòi sau: Nợ phải thu đã quá hạn thanh toán: đây là những nợ nợ của khách hàng đã qua hạn phải trả nhưng do một lý do nào đó mà khách hàng đó không thể trả được. Đối với nợ nợ khó đòi này, ta có thể phân ra làm các loại sau: - Nợ nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 tháng đến dưới 1 năm.
- Nợ nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 1 năm đến dưới 2 năm. - Nợ nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 2 năm đến dưới 3 năm - Nợ nợ phải thu quá hạn thanh toán từ 3 năm trở lên. Nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản hoặc đang làm thủ tục giải thể; người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử hoặc đang thi hành án… Các nợ nợ đã quá hạn thanh toán trên 3 năm hoặc chưa quá hạn thanh toán nhưng tổ chức kinh tế vay nợ không có khả năng trả nợ được nữa thì được coi như nợ nợ không có khả năng thu hồi. Theo thời gian thu hồi, nợ phải thu bao gồm: - Nợ trong hạn: những nợ tiền hàng mà khách hàng chưa thanh toán cho doanh nghiệp nhưng vẫn còn trong thời hạn qui định trong hợp đồng mua bán thì được coi là những nợ phải thu trong hạn.
Thời hạn qui định trong hợp đồng được doanh nghiệp và khách hàng thoả thuận khi bắt đầu ký hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá. Thời hạn này được qui định tuỳ theo từng đối tượng khách hàng. - Nợ quá hạn: là những nợ nợ phải thu đã vượt quá thời hạn qui định trả nợ trong hợp đồng trao đổi hàng hoá mà khách nợ vẫn chưa thanh toán tiền cho SVTH: Lê Chư Quyền Linh - 12 - Lớp: CQ54/11.08 Học Viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp doanh nghiệp. Đối với những nợ nợ này thì rủi ro không thu hồi được nợ là rất cao do khi gần đến hạn thanh toán thường doanh nghiệp sẽ có những biện pháp thúc giục khách nợ thanh toán tiền hàng nhưng khách hàng vẫn chưa thanh toán được khi thời hạn thanh toán đã hết chứng tỏ những nợ nợ này có vấn đề và cần phải theo dõi để xử lý kịp thời.
Theo hình thức bảo lãnh, nợ phải thu bao gồm: Theo hình thức này, doanh nghiệp khi trao đổi hàng hoá việc thu tiền về ngay hay còn cho đối tác nợ lại dựa trên uy tín của đối tác đối với doanh nghiệp. Có hai hình thức nợ như sau: - Nợ có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng mới xuất hliện trên thị trường mà doanh nghiệp chưa nắm được tình hình hoạt động kinh doanh của nó; với những khách hàng mà đã từng có những dấu hiệu làm ăn thua lỗ hay có những bằng chứng chứng minh khách hàng này thường hay thiếu nợ với những đối tác khác trong kinh doanh. Với những khách hàng này doanh nghiệp cần phải theo dõi sát sao quá trình hoạt động để kịp thời nắm bắt tình hình và xử lý khi những khách hàng này có biểu hiện không bình thường trong kinh doanh. - Nợ không có bảo lãnh: thường áp dụng với những khách hàng lâu năm của doanh nghiệp; những khách hàng có uy tín trong hoạt động kinh doanh, trong mối quan hê với đối tác.
Đây là những khách hàng lớn không chỉ có uy tín với doanh nghiệp mà còn có uy tín với các doanh nghiệp khác trên thị trường hoạt động của nó. Đối với những khách hàng như thế này, trong quan hệ mua bán doanh nghiệp không cần đòi hỏi phải có tài sản đảm bảo hay những nợ cầm cố, bảo lãnh. Làm việc dựa trên uy tín như thế này sẽ giữ được mối quan hệ hợp tác lâu dài, từ đó cũng sẽ làm tăng uy tín của doanh nghiệp do doanh nghiệp có những đối tác rất uy tín trên thị trường hoạt động kinh doanh. Theo tính chất của khách nợ Đối với quản lý công nợ phải thu việc phân loại khách hàng theo mối quan hệ làm ăn lâu dài là rất quan trọng bởi nó ảnh hưởng tới các quyết định trong chính sách tín dụng cũng như thời hạn tín dụng, hạn mức tín dụng mà doanh nghiệp quyết định đưa ra cho khách hàng trong các trao đổi.
SVTH: Lê Chư Quyền Linh - 13 - Lớp: CQ54/11.08 Học Viện Tài Chính Luận văn Tốt nghiệp - Phải thu của khách hàng mới - Phải thu của khách hàng lâu năm.2 Trả trước cho người bán Trả trước cho người bán là nợ tiền mà doanh nghiệp đặt trước cho người bán để nhận hàng nhằm mục đích nhận chiết khấu từ phía khách hàng là nhà cung cấp. Doanh nghiệp trả tiền hàng trước cho người bán còn nhằm mục đích đảm bảo nhận được hàng khi thị trường đang khan hiếm hàng hoá đó, khi nhà cung cấp có quá nhiều đối tượng muốn mua hàng. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động ít doanh nghiệp đặt tiền hàng trước mà thường có xu hướng chiếm dụng vốn của đối tác hơn.3 Thuế GTGT được khấu trừ (đối với các doanh nghiệp trả thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ). Là phần thuế GTGT đầu vào được hoàn lại nhưng NSNN chưa hoàn trả.
Thông thường các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá thường mua nguyên vật liệu bao gồm cả thuế GTGT đầu vào. Doanh nghiệp sử dụng những nguyên vật liệu đó để sản xuất ra hàng hoá bán ra thị trường với giá thanh toán bao gồm cả thuế GTGT đầu ra. Nếu thuế GTGT đầu ra > thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ nộp lại cho NSNN nợ dôi ra đó. Ngược lại, thuế GTGT đầu ra < thuế GTGT đầu vào thì doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế GTGT.
Nhưng trong kỳ hoạt động doanh nghiệp chưa được NSNN hoàn trả thì nợ thuế GTGT được khấu trừ đó sẽ được ghi vào công nợ phải thu NSNN.4 Phải thu nội bộ Thường phát sinh trong các doanh nghiệp có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán.