Chương 1 tổng hợp lại các nghiên cứu gồm các nghiên cứu tại Việt Nam cũng như trên thế giới về các nhân tế ảnh hưởng đến hành vi gian lận báo cáo tài chính và việc đo lường hành vi gian lận báo cáo tài chính từ đó tìm ra khe hỗng nghiên cứu.1 Các nghiên cứu trước đây về hành vi gian lận báo cáo tài chính Gần đây, có nhiều nghiên cứu quan tâm đến vấn để gian lận trong báo cáo tài chính. Các nghiên cứu này đã tìm ra nhiều yếu tế ảnh hưởng đến hành vi gian lận trong việc lập báo cáo tài chính, đồng thời đã phát triển các mô hình để phát hiện gian lận sớm trong các báo cáo tài chính. Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu, cả trong và ngoài Việt Nam: 1.11 Các nghiên cứu trên thể giới Các nghiên cứu trên thế giới về gian lận trên báo cáo tài chính theo hai hướng chính: xác định các mô hỉnh nhận diện hành vi gian lận và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận. Nghiên cứu của Beasley (1996) phân tích mối liên hệ giữa cấu trúc HĐQT và gian lận tài chính, dựa trên dữ liệu từ Báo cáo Ký luật Kế toán và Kiếm toán của SEC từ 1982-1991.
Kết quả cho thấy các công ty không gian lận có tỷ lệ thành viên độc lập cao hơn. Định nghĩa về gian lận của Beasley được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu sau. Beneish (1999) phát triển mô hình M-seore để đự đoán khả năng gian lận với độ chính xác 769%. Mô hình này giúp kiểm toán viên, nhà đầu tư và cơ quan quản lý xác định khả năng gian lận.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xây dựng lại mô hình M-seore cho phù hợp với bối cảnh cụ thể, ví dụ ở Thổ Nhĩ Kỳ và Anh. Nghiên cứu của Abbott và cộng sự (2000) đánh giá mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của hội đồng kiểm soát và gian lận dựa trên độc lập của các thành viên. Kết quả cho thấy các công ty gian lận có ít thành viên độc lập và ít cuộc họp hơn. Nghiên cứu của Skousen (2004) đánh giá khả năng dự đoán gian lận thông qua các yếu tố rủi ro trong SAS No.
Kết quả cho thấy tỷ lệ thành viên độc lập trong hội đồng kiểm toán, tỷ lệ sở hữu của ban quản lý, tỷ lệ sở hữu cá nhân, và đảm nhận vị trí kép CEO và Chủ tịch HĐQT là các yếu tế quan trọng. Nghiên cứu của Dechow và cộng sự (2010) dựa trên dữ liệu từ các báo cáo của SEC từ 1982-2005. Kết quả cho thấy các công ty gian lận thường có chỉ số phải trả cao, tăng các giao địch thuê tài sản và giảm số nhân viên. Tác giả đề xuất mô hình F- Score để dự đoán gian lận với ngưỡng cụ thé.
Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung vào xây dựng các mô hình dự đoán gian lận dựa trên phân tích các yếu tố như cấu trúc quản trị, tỷ lệ nợ, kết quả hoạt động kinh doanh, hoạt động ngoài báng. Một số mô hình phế biến là M-seore của Beneish và F-score cua Dechow. Cac yếu tố quản trị và độc lập của HĐQT, Hội đồng kiểm soát cũng được chỉ ra có ảnh hưởng đến khả năng gian lận. Các nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc điều chỉnh các mô hình cho phù hợp với bối cảnh cụ thê của từng quốc gia.12 Các nghiên cứu tại Việt Nam Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi gian lận trong báo cáo tài chính đã thu hút sự quan tâm đáng kế của giới học thuật.
Tuy nhiên, do thị trường chứng khoán Việt Nam còn khá non trẻ, các nghiên cứu liên quan đến gian lận báo cáo tài chính ở Việt Nam còn hạn chế. Một số nghiên cứu đã đề cập đến khía cạnh gian lận báo cáo tài chính ở Việt Nam, tập trung vào lý thuyết về gian lận, các phương pháp thực hiện gian lận, phân tích các biêu đồ gian lận phố biến và ứng đụng các chỉ số tài chính dé xác định sự không nhất quán trong báo cáo. Chẳng hạn, nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Trang (2012) đã sử dụng mô hình DeAngelo và Friedlan để xác định hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam. Kết quá cho thấy phần lớn các công ty có đấu hiệu gian lận, đặc biệt là công ty cổ phan nhằm thu hút đầu tư.
Nghiên cứu của Vũ Hữu Đức và cộng sự (2010) kiểm tra hiệu quả của các chỉ số tài chính trong phát hiện sự không nhất quán trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Kết quả cho thấy chỉ số lợi nhuận trên tổng tài sản có liên quan chặt chẽ với sự không nhất quán. Nghiên cứu của Lý Trần Kim Ngân (201 1) cung cấp thực trạng gian lận báo cáo tài chính và các thủ tục kiểm toán tại Việt Nam. Nghiên cứu đề xuất nhiều giải pháp nâng cao thủ tục kiểm toán để phát hiện gian lận như cải thiện môi trường pháp lý, làm rõ chương trình kiểm toán, và sử dụng các mô hình dự đoán gian lận.
Nghiên cứu của Nguyễn Trần Nguyên Trân (2014) xác định các trường hợp gian lận báo cáo tài chính của công ty niêm yết, sử dụng mô hình M-Score để đự đoán sai sớt đo gian lận. Tuy nhiên, nghiên cứu có hạn chế về phương pháp luận. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Ánh và Nguyễn Hải Linh (2016) áp đụng mô hình M- Score cho các công ty thuộc 10 ngành khác nhau để phát hiện thao túng lợi nhuận. Tuy nhiên, nghiên cứu ít tập trung vào lĩnh vực xây dựng.
Một số luận văn thạc sĩ như của Nguyễn Thị Trúc Linh (2018), Ca Thị Ngọc Tố (2017) cũng đã sứ dụng mô hình M-Score để phát hiện gian lận báo cáo tài chính. Tuy nhiên, các luận văn này chưa tập trung vào các công ty xây đựng niêm yết. Nghiên cứu của Nguyễn Anh Hiền (2016) áp đụng mô hình điều chỉnh của Jones để phân tích hành vi gian lận báo cáo tài chính thông qua điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết Việt Nam. Kết quả cho thấy các công ty xây dựng, vật liệu xây dựng và bất động sản có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận cao hơn so với các ngành khác.
Nhìn chung, các nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ thực trạng gian lận báo cáo tài chính ở Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế sau: 10 Thứ nhất, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào việc áp dụng các mô hình nước ngoài như M-Seore để phát hiện gian lận mà chưa xây dựng mô hình riêng phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Thứ hai, các nghiên cứu thường có quy mô mẫu nhỏ, tập trung vào một số công ty niêm yết nhất định. Do đó, kết quả nghiên cứu có thể chưa phản ánh đầy đủ thực trạng chung.
Thứ ba, các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính để phân tích gian lận. Việc kết hợp các phương pháp định lượng như phân tích hồi quy, phân tích chuỗi thời gian. có thể giúp nghiên cứu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng. Thứ tư, đa phần nghiên cứu tập trung vào phát hiện gian lận chứ chưa đi sâu vào nguyên nhân, động cơ gian lận để dé xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả.
Do đó, các hướng nghiên cứu trong tương lai có thé tập trung vào xây dựng các mô hình dự báo riêng cho bối cảnh Việt Nam; mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu; kết hợp nhiều phương pháp phân tích định lượng: nghiên cứu sâu hơn về nguyên nhân, động cơ gian lận để để xuất giải pháp. Đặc biệt, cần chú trọng nghiên cứu về lĩnh vực xây dựng và bất động sản do các ngành này thường xuyên có đấu hiệu gian lận cao tại Việt Nam.13 Nhận xét chung vỀ các nghiên cứu về hành vì gian lận báo cáo tài chính trong và ngoài nước Các nghiên cứu về gian lận trong báo cáo tài chính đã chí ra một số điểm quan trọng. Thứ nhất, có nhiều yếu tố như cấu trúc quản trị doanh nghiệp, đặc điểm nhân khẩu học của ban quản lý, áp lực tài chính. liên quan đến hành vi gian lận báo cáo tài chính.
Thứ hai, dữ liệu tài chính có giá trị lớn trong việc phát hiện gian lận. Các nghiên cứu đã sử dụng đữ liệu từ các cuộc điều tra của SEC hay kết quả kiểm toán dé phan tích gian lận. Thứ ba, các mô hình hồi quy được ứng đụng rộng rãi để đánh giá tác động của các yếu tế rủi ro tới gian lận báo cáo tài chính. Phương pháp này đựa trên việc so sánh nhóm công ty có gian lận với nhóm không gian lận.
ll Mặc dù các nghiên cứu và luận văn thạc sĩ tại Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc phát hiện gian lận báo cáo tài chính, tình trạng này vẫn tiếp điễn và gia tăng gần đây. Do đó, cần có thêm các nghiên cứu để hỗ trợ các cơ quan quản lý thị trường, nhà đầu tư, người cho vay và kiểm toán viên trong việc phát hiện sớm gian lận. Các nghiên cứu cần tập trung vào đánh giá các yếu tố ảnh hướng đến hành vi gian lận báo cáo tài chính, đặc biệt trong bối cảnh tác động của đại dịch COVID-19 tại Việt Nam.2 Khe hỏng nghiên cứu Nghiên cứu về hành vi gian lận báo cáo tài chính đã được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Tuy nhiên, những nghiên cứu chỉ tập trung vào | nhóm nhân tố hoặc một vài nhân tố, có những nhân tố có tác động được nghiên cứu ở quốc gia này nhưng lại không tác động tại nghiên cứu khác ở quốc gia khác.
Nhiều nghiên cứu cũng chỉ đừng lại ở việc phân tích và so sánh các mô hình nào phù hợp với hành vị gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam, có những nghiên cứu chi lay mẫu ở riêng sàn HOSE hoặc HNX, mẫu chỉ 2-3 năm và việc lấy mẫu ít cũng làm ảnh hưởng đến độ bao quát và đại diện cho hành vị gian lận BCTC của các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Theo nghiên cứu của John W. Goodell, cuộc khủng hoảng COVIID-I9 đang chỉ ra cho các nhà đầu tư, các nhà hoạch định chính sách và công chúng nói chung biết rằng thiên tai có thể gây ra thiệt hại trên một quy mô chưa từng có trước đây. Hiện nay đã có vaceine nhưng về hiệu quả và công dụng trước những biến chủng vẫn đang là câu hỏi lớn mà vẫn chưa có lời giải đáp.