Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên bctc của các dnptcny trên ttck việt nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên bctc của các dnptcny trên, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm,

Chuyên ngành

Tài Chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

20
15
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1. Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC

1.2. Minh bạch thông tin

1.3. Thông tin trên Báo cáo tài chính

1.4. Minh bạch thông tin trên BCTC

1.5. Vai trò của minh bạch thông tin trên BCTC

1.6. Tiêu chí đánh giá và đo lường mức độ minh bạch thông tin trên Báo cáo tài chính

1.7. Tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC

1.8. Đo lường mức độ minh bạch thông tin trên BCTC

1.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC

1.9.1. Một số lý thuyết nền tảng. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC

1.10. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1. Doanh nghiệp niêm yết và doanh nghiệp phi tài chính niêm yết

2.2. Doanh nghiệp niêm yết

2.3. Doanh nghiệp phi tài chính niêm yết

2.4. Tổng quan về báo cáo tài chính của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết

2.5. Hệ thống báo cáo tài chính

2.6. Quy định về lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam

2.7. Đặc điểm báo cáo tài chính của các DN phi tài chính niêm yết

2.8. Khái quát thực trạng về lập, trình bày và công bố thông tin trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết

2.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Mô hình nghiên cứu. Phương pháp thu thập dữ liệu và quy trình thực hiện trong nghiên cứu định tính

3.4. Thu thập dữ liệu

3.5. Quy trình thực hiện nghiên cứu định tính

3.6. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu trong nghiên cứu định lượng

3.7. Thu thập dữ liệu

3.8. Phương pháp xử lý dữ liệu định lượng

3.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH MINH BẠCH THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

4.1. Kết quả nghiên cứu định tính

4.2. Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các tiêu chí đo lường tính minh bạch thông tin

4.3. Tổng hợp ý kiến chuyên gia về các yếu tố ảnh hưởng

4.4. Tổng hợp ý kiến của các chuyên gia về thực trạng minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY

4.5. Kết quả nghiên cứu định lượng

4.5.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

4.5.2. Kết quả thống kê mô tả về thực trạng mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY

4.5.3. Thống kê mô tả về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY

4.5.4. Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo

4.5.5. Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA

4.5.6. Kết quả phân tích tương quan và hồi quy bội

4.5.7. Kết quả kiểm định giả thuyết

4.6. Bàn luận về kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch của thông tin trên Báo cáo tài chính của các DN phi tài chính niêm yết

4.6.1. Kiểm soát nội bộ

4.6.2. Hội đồng quản trị

4.6.3. Ban Giám đốc

4.6.4. Ban kiểm soát

4.6.5. Nhân viên kế toán

4.6.6. Môi trường pháp lý

4.6.7. Kiểm toán độc lập

4.6.8. Về phần mềm kế toán

4.7. KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO TÍNH MINH BẠCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP PHI TÀI CHÍNH NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

5.1. Kết luận về tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam

5.2. Kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam

5.3. Khuyến nghị và giải pháp nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết

5.3.1. Đối với các DNPTCNY

5.3.2. Đối với nhân viên kế toán

5.3.3. Đối với Bộ Tài chính và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước

5.3.4. Đối với kiểm toán độc lập

5.3.5. Đới với Hội nghề nghiệp, cơ sở đào tạo

5.3.6. Đối với các nhà đầu tư

5.4. Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

5.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về minh bạch thông tin trên BCTC

Báo cáo tài chính (BCTC) được coi là một trong những công cụ quan trọng giúp các nhà đầu tư đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp niêm yết. Minh bạch thông tin trong BCTC không chỉ là việc công bố thông tin mà còn liên quan đến chất lượng, độ tin cậy và tính chính xác của thông tin đó. Theo nghiên cứu, tính minh bạch của thông tin trên BCTC ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Các quy định về lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC đã được quy định rõ trong Luật Chứng khoán. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn tồn tại nhiều vấn đề trong việc công khai và minh bạch thông tin. Các doanh nghiệp niêm yết cần phải chú trọng đến việc cải thiện chất lượng BCTC để thu hút nhà đầu tư và nâng cao uy tín trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

1.1. Đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC

Đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC là một vấn đề phức tạp, thường được thực hiện thông qua các tiêu chí khác nhau. Một số nghiên cứu cho rằng mức độ công bố thông tin là chỉ số chính để đánh giá tính minh bạch. Tuy nhiên, điều này có thể dẫn đến sự hiểu lầm về chất lượng thông tin. Các tổ chức như OECD và S&P đã phát triển các bộ tiêu chí để đánh giá tính minh bạch, nhưng việc áp dụng vào thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn. Do đó, cần có một hệ thống đánh giá toàn diện và nhất quán để phản ánh đúng thực trạng minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC

Tính minh bạch của thông tin trên BCTC chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp. Các yếu tố nội bộ như quy trình lập và trình bày thông tin, trình độ của nhân viên kế toán, và sự chú trọng của ban lãnh đạo đến minh bạch thông tin có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài như môi trường pháp lý, quy định của cơ quan quản lý và sự giám sát của kiểm toán độc lập cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch. Nghiên cứu cho thấy rằng những doanh nghiệp có quy trình kiểm soát nội bộ tốt và có sự tham gia của các bên liên quan trong việc lập BCTC thường có độ minh bạch cao hơn.

2.1. Vai trò của quy định pháp lý trong việc nâng cao tính minh bạch

Các quy định pháp lý như Luật Chứng khoán năm 2019 đã tạo ra một khung pháp lý vững chắc cho việc công bố thông tin trên BCTC. Những quy định này không chỉ yêu cầu doanh nghiệp phải công khai thông tin mà còn phải đảm bảo rằng thông tin được công bố là chính xác và kịp thời. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định này vẫn còn nhiều thách thức. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực sự chú trọng đến việc công bố thông tin minh bạch, dẫn đến tình trạng thông tin bị sai lệch hoặc không đầy đủ. Do đó, cần có sự tăng cường giám sát từ các cơ quan quản lý để đảm bảo rằng các doanh nghiệp niêm yết tuân thủ đúng các quy định về công bố thông tin.

III. Thực trạng minh bạch thông tin trên BCTC của doanh nghiệp phi tài chính niêm yết

Thực trạng minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay còn nhiều vấn đề cần cải thiện. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn công bố thông tin không kịp thời, số liệu trước và sau kiểm toán có sự chênh lệch lớn. Các chỉ tiêu trên BCTC chưa được trình bày đầy đủ và rõ ràng, gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc đánh giá tình hình tài chính. Đặc biệt, sự thiếu minh bạch trong các giao dịch với bên liên quan cũng làm gia tăng rủi ro cho nhà đầu tư. Các doanh nghiệp cần phải nâng cao ý thức về minh bạch thông tin để xây dựng lòng tin với nhà đầu tư và cải thiện hình ảnh trên thị trường.

3.1. Những vấn đề nổi cộm trong công bố thông tin

Một số vấn đề nổi cộm trong công bố thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết bao gồm việc công bố thông tin không đầy đủ, không kịp thời và thiếu chính xác. Nhiều doanh nghiệp chỉ chú trọng đến việc công khai thông tin mà không quan tâm đến chất lượng thông tin. Điều này dẫn đến việc nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc ra quyết định đầu tư. Để cải thiện tình hình, các doanh nghiệp cần phải thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng BCTC, từ đó đảm bảo rằng thông tin công bố là chính xác, đầy đủ và kịp thời.

IV. Khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC

Để nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTC, các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết cần thực hiện một số khuyến nghị quan trọng. Đầu tiên, cần tăng cường quy trình kiểm soát nội bộ để đảm bảo chất lượng thông tin được công bố. Thứ hai, các doanh nghiệp nên đào tạo nhân viên kế toán và ban lãnh đạo về tầm quan trọng của minh bạch thông tin trong việc xây dựng lòng tin với nhà đầu tư. Thứ ba, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các cơ quan quản lý để đảm bảo rằng các quy định về công bố thông tin được thực hiện nghiêm túc. Cuối cùng, các doanh nghiệp nên chủ động công bố thông tin một cách minh bạch và đầy đủ để thu hút nhà đầu tư và nâng cao uy tín trên thị trường.

4.1. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Các giải pháp cụ thể để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC bao gồm việc xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch rõ ràng và cụ thể, áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế và tăng cường đào tạo cho nhân viên về quy trình lập và công bố BCTC. Đồng thời, cần có sự giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý để đảm bảo rằng các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định về công bố thông tin. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng BCTC mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, phản ánh các thông tin kinh tế tài chính tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp (DN). Có thể coi BCTC là sản phẩm của quá trình lập, trình bày và cung cấp thông tin của một đơn vị kế toán. BCTC là một nguồn thông tin quan trọng để nhà đầu tư đánh giá thực trạng tài chính của DN, phục vụ việc ra quyết định đầu tư.

Nhà đầu tư cần được đảm bảo rằng họ được cung cấp thông tin trung thực và đáng tin cậy về tình hình tài chính của DN. Để đảm bảo độ tin cậy của thông tin do doanh nghiệp niêm yết (DNNY) công bố, các Luật Chứng khoán năm 2004 và 2014, nay là Luật Chứng khoán năm 2019 mới được ban hành đều đã có quy định BCTC hàng năm của các DNNY phải được kiểm toán. Tuy nhiên thực tế thời gian qua, chất lượng BCTC của các DNNY còn nhiều vấn đề nổi cộm, nhiều trường hợp BCTC đã được kiểm toán song vẫn còn sai sót, làm sai lệch thông tin tài chính, gây thiệt thòi cho các nhà đầu tư, không ít nhà đầu tư ra quyết định sai lầm theo những thông tin mà DNNYcông bố trong BCTC kể cả BCTC đã được kiểm toán. Dư luận xã hội quan ngại về chất lượng kiểm toán BCTC của các DNNY trong thời gian gần đây.

Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam là kênh huy động vốn quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Để tạo được lòng tin của nhà đầu tư trên TTCK, thông tin về DNNY phải minh bạch, tức là phải công khai, trung thực, chính xác và được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho thị trường. Tính minh bạch là yếu tố sống còn và quyết định mức độ hiệu quả của TTCK vì mức độ minh bạch và trung thực của thông tin, là căn cứ chủ yếu để cơ quan quản lý (UBCKNN) xem xét điều kiện chào bán, niêm yết chứng khoán và nhà đầu tư ra quyết định đầu tư. Việc công khai, minh bạch thông tin trên BCTC của các DNNY được quan tâm từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau, không chỉ là ban lãnh đạo DN mà BCTC còn được quan tâm đặc biệt từ các nhà đầu tư, các chuyên gia phân tích, các đối tác, các cơ quan quản lý….

Công khai, minh bạch là phương tiện hữu hiệu để các đối tượng quan tâm có được sự nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng hoạt động của DN, đặc biệt là thực trạng tài chính khi đưa ra các quyết định kinh tế. Tuy nhiên, thông tin trên BCTC được trình bày và công bố như thế nào để đáp ứng được nhu cầu người sử dụng vẫn còn khoảng cách tương đối lớn giữa thực tế và kỳ vọng. Song, tính công khai minh bạch của thông tin trên BCTC phụ thuộc vào chất lượng của 2 quá trình tạo lập, trình bày và công bố thông tin của các DN, quá trình này chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố bên trong lẫn bên ngoài DN. Chính vì vậy, hiện nay trên thế giới và Việt Nam, vấn đề này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm.

Tại Việt Nam, TTCK ngày càng phát triển, theo đó các quy định về pháp lý liên quan ngày càng được bổ sung hoàn thiện. Đặc biệt là các quy định liên quan đến lập, trình bày và công bố thông tin trên BCTC. Các quy định này được hoàn thiện theo hướng ngày càng nâng cao tính công khai, minh bạch của thông tin. Song, một số quy định còn mang tính định hướng chưa thực sự cụ thể, rõ ràng, chưa có sự ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý.

Điều này, dẫn đến khả năng vận dụng quy định pháp luật vào thực tiễn ở mỗi DN có sự khác nhau nhất định. Bên cạnh, các DNNY đã có ý thức chấp hành tốt các quy định của pháp luật trong việc lập, trình bày và công bố BCTC vẫn còn không ít số lượng DN chưa chú trọng nhiều đến tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC. Các thông tin công bố còn nặng về hình thức, mới chỉ dừng lại ở yêu cầu công khai chứ chưa chú trọng đến tính minh bạch, vẫn còn phổ biến các tình trạng như: Công bố BCTC không kịp thời, số liệu trước và sau khi kiểm toán có sự chênh lệch tương đối lớn; giao dịch với các bên liên quan chưa được thuyết minh đầy đủ; trình bày các chỉ tiêu trên BCTC chưa đầy đủ, chưa đúng quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán và các quy định pháp lý liên quan; một số khoản mục trọng yếu trên BCTC chưa được trình bày đầy đủ, chi tiết và rõ ràng… làm ảnh hưởng đến khả năng đọc hiểu thông tin cũng như ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng khi sử dụng thông tin trên BCTC của các DNNY để đưa ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, tính công khai, minh bạch của thông tin trên BCTC không dễ dàng đánh giá và nhận biết.

Đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới cũng chưa có bộ chỉ số chính thức nào được sử dụng để đánh giá tính minh bạch của các thông tin trên BCTC của các DNNY. Do vậy, các tiêu chí đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC của các nghiên cứu trước vẫn còn rời rạc, chưa nhất quán, chưa đồng bộ. Để đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC là việc không dễ dàng, song làm thế nào để biết được các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC càng khó hơn. Bởi vì, chỉ khi hiểu rõ, nắm vững và kiểm soát được các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC mới giúp nhà quản lý DN, các cơ quan quản lý xác định được các giải pháp phù hợp để nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể xuất phát từ bên trong và bên ngoài, có thể từ phía các DNNY với vai 3 trò là người cung cấp thông tin, từ phía các DNKT trong việc phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên BCTC, hay từ phía môi trường pháp lý liên quan, hay do một yếu tố nào khác. Mặt khác, số lượng các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết (DNPTCNY) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DNNY trên TTCK VN (khoảng 90%), đa dạng về lĩnh vực kinh doanh như: Xây dựng, sản xuất, thương mại, dịch vụ,…có vai trò rất lớn trong sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, đối tượng sử dụng thông tin trên BCTC của các DNPTCNY cũng rất đa đạng bao gồm Ban lãnh đạo DN, nhà đầu tư, ngân hàng, các đối tác, cơ quan quản lý Nhà nước, DNKT và các chuyên gia phân tích chứng khoán…Do đó, sự minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của các đối tượng sử dụng thông tin. Để có thể đưa ra những khuyến nghị và giải pháp một cách phù hợp, mang tính khả thi cao nhằm đảm bảo và nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của DNPTCNY yết trên TTCK Việt Nam, cần thiết phải xác định được các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC, đặc biệt là thông tin trên BCTC của các DN phi tài chính niêm yết trên TTCK.

Mặt khác mới đây Quốc hội đã chính thức ban hành Luật Chứng khoán năm 2019 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, trong có có những điều khoản quy định nhằm tăng cường trách nhiệm của DNNY trong việc đảm bảo chất lượng thông tin trên BCTC để công khai, minh bạch. Để những quy định của Luật đi vào cuộc sống cần thiết phải có những nghiên cứu, đề xuất cụ thể các giải pháp để nâng cao tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNNY trên TTCK Việt Nam. Ở Việt Nam tính đến nay, theo tìm hiểu của tác giả, chưa có nghiên cứu chính thức nào xác định các yếu tố, cũng như lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến tính minh bạch của các thông tin trên BCTC của DNPTCNY trên TTCK TTCK dưới góc độ người cung cấp thông tin, mặc dù vấn đề này đang nhận được sự quan tâm không chỉ từ các nhà nghiên cứu mà còn từ các nhà quản lý DN, cơ quan quản lý, nhà đầu tư, DNKT…. Đây được coi là phương pháp kiểm soát tính minh bạch thông tin trên BCTC từ gốc.

Từ những lý do trên, NCS lựa chọn nghiên cứu đề tài : “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch của thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam” với mong muốn góp phần làm sáng tỏ vấn đề đang được quan tâm, đồng thời là cơ sở để tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên BCTC của các DNPTCNY trên TTCK Việt Nam. Tổng quan nghiên cứu và nhận diện khoảng trống nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về đánh giá tính minh bạch thông tin và tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính. Đánh giá tính minh bạch thông tin nói chung, minh bạch thông tin trên BCTC nói riêng là một việc không hề dễ dàng.

Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về tính minh bạch thông tin trên BCTC có thể chia theo hai hướng tiếp cận khác nhau: Một số công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin đồng nghĩa với mức độ công bố thông tin, trong khi đó có những công trình nghiên cứu lại cho rằng minh bạch thông tin phải được xem xét theo các đặc tính của thông tin công bố. Do vậy, các tiêu chí đánh giá tính minh bạch thông tin trên BCTC cũng dựa trên những cơ sở khác nhau. Với các công trình nghiên cứu cho rằng minh bạch thông tin trên BCTC đồng nghĩa với mức độ công bố thông tin, thường xuất phát từ quan điểm của người sử dụng thông tin đặc biệt là từ đánh giá của nhà đầu tư để đánh giá mức độ minh bạch thông tin trên BCTC. Trong các nghiên cứu này, để đánh giá mức độ minh bạch thông tin, các nhà nghiên cứu thường dựa trên bộ tiêu chí đánh giá tính minh bạch của các tổ chức có uy tín như OECD, S&P, CIFAR.

Theo Robert Bushman và cộng sự (2001) nghiên cứu về minh bạch thông tin tài chính ở góc độ công ty cho rằng minh bạch thông tin tài chính là sự sẵn có của thông tin cho các đối tượng sử dụng, tác giả sử dụng chỉ số CIFAR để đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính của công ty.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về tính minh bạch thông tin trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân, năm 2023, tập trung vào việc phân tích và đánh giá mức độ minh bạch thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết. Bài luận án này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của tính minh bạch trong báo cáo tài chính mà còn chỉ ra những lợi ích mà doanh nghiệp và nhà đầu tư có thể nhận được từ việc cải thiện chất lượng thông tin tài chính.

Để mở rộng kiến thức và hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm một số tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ kế toán các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh, nơi phân tích các yếu tố tác động đến mức độ công bố thông tin. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu về Phân tích báo cáo tài chính của công ty TNHH Osco International giai đoạn 2020-2022, cung cấp cái nhìn cụ thể về phân tích báo cáo tài chính trong thực tiễn. Cuối cùng, Báo cáo định giá doanh nghiệp theo phương pháp chiết khấu cổ tức tại công ty cổ phần Kinh Đô cũng là một tài liệu quý giá giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên thông tin tài chính. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam.