Chương 1 đã trình bày tóm tắt các nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ đó, nghiên cứu xác định khe hỗng nghiên cứu để tiếp tục thực hiện đề tài luận văn. 123doc 12 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MINH BẠCH THÔNG TIN TÀI CHÍNH VÀ HÀNH VI NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN 2.1 Một số vấn đề chung về minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư cá nhân 2.1 Minh bạch thông tin tài chính và hành vi nhà đầu tư Khái niệm minh bạch thông tin tài chính Trong nghiên cứu, khái niệm thông tin đã được nhiều tác giả định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Chẳng hạn, thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện dưới một hình thức có ích đối với người sử dụng để ra quyết định. Thông tin có ích với việc ra quyết định của đối tượng sử dụng vì nó giảm được sự không chắc chắn và tăng tính tri thức đối với vấn đề đang được đề cập, theo (Gelinas và Dull, 2008). Hay nói một cách đơn giản, thông tin được hiểu dưới nhiều hình thức như ngôn ngữ, chữ số, ký hiệu, biểu đồ, bảng biểu, thông số, công thức, nhận định, đánh giá…và được truyền tải dưới nhiều hình thức khác nhau như báo chí, điện ảnh, truyền thanh, truyền hình, dữ liệu điện tử đem đến cho người đọc có một sự hiểu biết, một cách nhìn nhận mới thông qua tra cứu hoặc phân tích các thông tin trong biểu đồ, sơ đồ, trên các dữ liệu điện tử để phục vụ cho nhu cầu tra cứu. Thông tin trên TTCK được tác giả Nguyễn Thúy Anh (2012) định nghĩa là “tập hợp các số liệu, tin báo, các dữ liệu phản ánh tình hình hoạt động của TTCK, có ảnh hưởng đến biến động giá trên TTCK giúp cho đối tượng tiếp nhận có được những quyết định nhằm đạt mục đích như mong muốn”.
Trong khi đó, dưới góc độ kinh tế, nhóm tác giả Trần Minh Tuấn và Bùi Thị Thanh (2014) lại định nghĩa là “toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong giai đoạn phát triển nhất định, thông qua các BCTC, bảng kê chi tiết tài sản, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chiến lược phát triển của doanh nghiệp trong tương lai”. Cho đến nay, sự minh bạch thông tin đã được nhiều tổ chức và cá nhân định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo tổ chức Standard & Poor (S&P) định nghĩa minh bạch là “sự công bố kịp thời và phù hợp của những thành quả về hoạt động và 123doc 13 tài chính của công ty cũng như các hệ thống quản trị liên quan đến cấu trúc sở hữu, BGĐ, cấu trúc và quá trình quản lý”. Hoặc là, minh bạch thông tin phải phản ảnh thực tế các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp, đồng thời nhấn mạnh sự khác nhau của những rủi ro và cơ hội mà công ty đối mặt.
Ngoài ra, thông tin phải dễ hiểu và so sánh được, (Blanchet, 2002). Trong một nghiên cứu khác, nhóm tác giả Bushman và cộng sự (2004) cho rằng minh bạch thông tin là “sự sẵn có của các thông tin cụ thể về công ty đối với các đối tượng bên ngoài công ty. Thông tin được chia làm ba nhóm chính, gồm báo cáo công ty, sự đạt được các thông tin bí mật và sự phổ biến của thông tin”. Trong đó, sự minh bạch TTTC thông qua các báo cáo công ty được xem xét dưới năm khía cạnh: (i) mức độ CBTT; (ii) mức độ công bố về quản trị công ty; (iii) các nguyên tắc kế toán áp dụng để đo lường CBTT; (iv) thời gian công bố BCTC; (v) chất lượng kiểm toán độc lập (Bushman và Smith, 2003).
Không chỉ dừng lại ở đó, (Kulzick, 2004) đứng ở góc độ người sử dụng lại cho rằng minh bạch TTTC phải liên quan tới ít nhất đến 8 yếu tố: Sự chính xác: thông tin phản ánh chính xác sự kiện kinh tế phát sinh; Sự nhất quán: thông tin trình bày có thể so sánh được; Sự thích hợp: thông tin có khả năng làm thay đổi quyết định người sử dụng, giúp họ đánh giá ảnh hưởng của nghiệp vụ quá khứ, hiện tại và tương lai đến các dòng tiền trong tương lai cũng như giúp họ xác nhận hoặc điều chỉnh hành vi trước đó; Sự đầy đủ: tất cả thông tin cần thiết cho người sử dụng phải được công bố đầy đủ. Bao gồm, có nhiều hơn các chỉ số đo lường thành quả hoạt động chính, và các thông tin khác trình bày trên BCTC cần để đánh giá chính xác vị trí và hiệu quả hoạt động của công ty; Sự rõ ràng: thông tin được trình bày rõ ràng, dễ hiểu cho người sử dụng; Sự kịp thời: thông tin được trình bày trong khoảng thời gian hợp lý, hay thông tin phải luôn có sẵn trước khi thông tin giảm khả năng ảnh hưởng đến các quyết định; Sự thuận tiện: người sử dụng có thể dễ dàng và công bằng khi truy cập tất cả các thông tin liên quan đến công ty; Quản lý và thực thi: các chính sách phải được áp dụng đầy đủ để đảm bảo mức độ thống nhất chung về minh bạch thông tin. 123doc 14 Theo Bushman và cộng sự (2004), minh bạch TTTC là sự sẵn có của thông tin cụ thể về công ty cho các nhà đầu tư và cổ đông bên ngoài. Nhóm tác giả này đo lường cơ chế cung cấp thông tin theo ba nhóm, cụ thể: (1) Những quy định trong BCTC của công ty gồm có: mức độ, nguyên tắc, tính kịp thời của BCTC, chất lượng kiểm toán và mức độ công khai thông tin quản trị (thông tin về mức thù lao, số cổ phần nắm giữ của cổ đông lớn…); (2) mức độ đáp ứng các thông tin riêng biệt của doanh nghiệp; (3) mức độ phổ biến của thông tin bao gồm khả năng tiếp cận thông tin qua các phương tiện truyền thông.
Ngoài ra, (Mironiuc và cộng sự, 2013) cũng cho rằng minh bạch TTTC liên quan đến các yêu cầu về việc tuân thủ các quy định trong khuôn mẫu của chuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế nhằm đảm bảo thông tin trên BCTC được trình bày một cách trung thực và hợp lý, không có những sai sót trọng yếu. Hoặc cũng có thể hiểu, minh bạch TTTC là việc cung cấp các TTTC một cách tin cậy, kịp thời, đầy đủ, nhất quán và không có sai sót trọng yếu theo cách thức mà công chúng có thể tiếp cận được (Lê Thị Mỹ Hạnh, 2015). Tóm lại, minh bạch thông tin tài chính là sự công bố thông tin một cách kịp thời, phù hợp của những thành quả về hoạt động và tài chính công ty cũng như các hệ thống quản trị liên quan đến cấu trúc sở hữu, ban giám đốc, cấu trúc và quá trình quản lý giúp nhà đầu tư có thể dễ dàng sử dụng để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý và hiệu quả. Minh bạch TTTC có vai trò quan trọng đối với nhiều đối tượng khác nhau.
Đối với người sử dụng, minh bạch TTTC mang đến niềm tin và sự bảo vệ, đồng thời giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định hợp lý và hiệu quả. Đối với công ty, minh bạch TTTC giúp cho bản thân công ty giảm bớt rủi ro, gian lận BCTC, gia tăng giá trị, uy tín, giảm bớt chi phí sử dụng vốn. Đối với TTCK, minh bạch TTTC giúp giá chứng khoán phản ảnh đúng giá trị nội tại, góp phần giúp TTCK hoạt động hiệu quả và bền vững (Nguyễn Đình Hùng, 2010). 123doc 15 Khái niệm hành vi nhà đầu tư Theo luật Chứng khoán 2006: “Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư trên TTCK”.
Trong luận văn, nhà đầu tư được hiểu là các nhà đầu tư cá nhân tham gia trên TTCK. Khi tham gia trên TTCK, nhà đầu tư quan tâm chủ yếu vào ba mục tiêu chính là cổ tức, an toàn vốn và gia tăng vốn đầu tư. Hành vi nhà đầu tư trên TTCK được hiểu “chuỗi hành động của nhà đầu tư trước các kích thích của môi trường bên ngoài có liên quan đến TTCK và các yếu tố bên trong thuộc về nhà đầu tư”, Nguyễn Đức Hiển (2012). Trong phạm vi luận văn, khi đề cập tới hành vi nhà đầu tư được hiểu bao gồm các hoạt động mua, bán và nắm giữ cổ phiếu.
Nghiên cứu của tác giả (Rezaee và cộng sự, 2003), (H.Fu, 2006) cho rằng việc minh bạch TTTC có ảnh hưởng đáng kể đối với hành vi của nhà đầu tư, trong đó minh bạch về quy trình hoạt động và cấu trúc HĐQT có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của nhà đầu tư trên TTCK. Một nghiên cứu khác nhấn mạnh rằng hiệu quả hoạt động của HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến thành quả hoạt động công ty và mối quan hệ nhà đầu tư (Randoy và cộng sự, 2003). Hơn nữa, hiệu quả hoạt động tài chính công ty có ảnh hưởng tích cực đối với việc thu hút nhà đầu tư nên việc minh bạch TTTC công ty sẽ góp phần cải thiện được sự quan tâm và niềm tin của nhà đầu tư trên TTCK (Flouris và Walker, 2005).2 Các văn bản hướng dẫn công bố thông tin theo quy định hiện hành TTCK Việt Nam chính thức ra đời ngày 20/7/2000, trải qua hơn một thập kỉ hình thành và phát triển đã cho thấy vai trò quan trọng của sự quản lý và điều hành của Nhà nước, đảm bảo TTCK hoạt động công bằng, công khai, minh bạch, an toàn và hiệu quả. Vai trò này thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp quy, hướng dẫn về hoạt động CBTT trên TTCK.
Hiện nay, việc CBTT trên TTCK chịu sự chi phối chủ yếu bởi một số văn bản pháp quy sau: 123doc 16 Luật chứng khoán năm 2006 Ngày 29/6/2006, Quốc Hội đã thông qua Luật Chứng Khoán số 70/QH 11 áp dụng từ ngày 1/1/2007 bao gồm 11 chương, 136 điều quy định toàn diện các hoạt động trên TTCK. Luật Chứng Khoán ra đời đã đánh dấu một bước ngoặc lớn, có ý nghĩa trong công tác quản lý, điều hành hoạt động TTCK Việt Nam. Luật này đã tạo lập ra một khuôn khổ pháp lý có giá trị pháp lý cao nhất cho hoạt động trên TTCK, dùng làm cơ sở giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác có liên quan nhằm mục đích hoàn thiện mô hình hoạt động của TTCK cũng như thúc đẩy TTCK phát triển ổn định, hiệu quả. Luật Chứng khoán có phạm vi điều chỉnh rộng hơn bao gồm hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng, niêm yết, giao dịch, kinh doanh, đầu tư chứng khoán, dịch vụ về chứng khoán và TTCK.