MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dòng tiền là nguồn lực quan trọng hàng đầu đối với các hoạt động trong doanh nghiệp (DN). Trong hoạt động kinh doanh, tiền được coi là máu và dòng tiền là huyết mạch của DN. Dòng tiền giữ vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo hoạt động thường xuyên liên tục cũng như gia tăng hiệu quả kinh doanh của các DN.
Vì vậy, việc quản trị dòng tiền là vấn đề quyết định trực tiếp đến sự sống còn của các DN. Theo Munusamy HR (2010) [90]: quản trị dòng tiền quyết định sự tồn tại trong ngắn hạn và dài hạn của DN. Trên thực tế, một số DN trên thế giới và ở Việt Nam trong đó có cả doanh nghiệp lớn bị phá sản không phải do khả năng sinh lời thấp, lợi nhuận suy giảm mà do thiếu vốn bằng tiền để thanh toán các khoản nợ đến hạn và đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cần thiết. Tuy nhiên, tình trạng DN dư thừa tiền quá mức sẽ dẫn đến việc sử dụng tiền lãng phí và kém hiệu quả trong khi DN phải vay vốn ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác.
Điều đó thể hiện sự yếu kém trong hoạt động quản trị dòng tiền của DN. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của DN phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn. Việc quản trị dòng tiền có hiệu quả giúp DN kiểm soát vốn bằng tiền, chủ động hoạch định điều khiển sự vận động của dòng tiền, đảm bảo sự cân đối, ăn khớp giữa dòng tiền vào và dòng tiền ra đồng thời đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành thông suốt. Bên cạnh đó, giá trị doanh nghiệp được phản ánh thông qua thị giá của cổ phiếu.
Việc quản trị dòng tiền hiệu quả sẽ giúp DN mở rộng cơ hội tăng trưởng, được các nhà đầu tư tin tưởng kéo theo giá cổ phiếu tăng lên. Quản trị dòng tiền hiệu quả còn hỗ trợ gia tăng lợi nhuận, đáp ứng kế hoạch tương lai và duy trì khả năng tăng trưởng bền vững của DN. Hơn thế, quản trị dòng tiền giúp DN chủ động xử lý tình trạng thặng dư, thâm hụt tiền. Trên cơ sở cân đối dòng thu - chi, DN phát hiện, phòng ngừa các lỗ hổng tiềm ẩn về dòng tiền đồng thời có kế hoạch điều tiết nhu cầu vốn hợp lý, vừa đủ và đầu tư tiền mặt dư thừa một cách linh hoạt, giúp tăng khả năng sinh lời.
Thời gian gần đây, bối cảnh diễn biến kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng chậm, thương mại thế giới biến động, đặc biệt là cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đang làm gia tăng tính bất ổn của hệ thống thương mại toàn cầu và có những tác động nhất định tới nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó, tác động tiêu tực của dịch Covid từ cuối năm 2019 khiến phần lớn các DN nước ta đặc biệt là các DN dệt may niêm yết (DN DMNY) bị ảnh hưởng nặng nề do gặp nhiều khó khăn trước sức ép về cạnh tranh, thanh lọc, biểu hiện rõ nhất là tình trạng thiếu vốn, tồn đọng hàng hóa lưu kho do nhu cầu tiêu dùng giảm, chi phí hoạt động tăng. Trên thực tế, mặc dù các DN DMNY tại Việt Nam đã triển khai nhiều giải pháp nhằm duy trì lực lượng lao động, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến tổng cầu trên thế giới giảm mạnh, đầu ra của sản phẩm gần như bị “đóng băng”, nên hầu hết các DN DMNY nước ta hiện đang gặp rất nhiều khó khăn. 2 Để đứng vững trên thị trường, tránh rơi vào tình trạng phá sản, các DN DMNY cần thực hiện có hiệu quả các giải pháp quản trị tài chính DN, trong đó quản trị dòng tiền là công cụ hữu hiệu giúp các DN DMNY duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và lấp đầy khoảng trống thu nhập.
Đặc biệt, để trải qua giai đoạn khó khăn và nhiều biến động hiện nay, các DN DMNY cần có chiến lược quản trị dòng tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán và tránh phải đối mặt với vấn đề rủi ro tài chính. Đó là việc làm cần thiết để gia tăng lợi nhuận, củng cố tính bền vững và triển vọng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, làm cách nào các DN DMNY có thể tăng cường quản trị dòng tiền trong điều kiện kinh tế hiện nay vẫn là vấn đề bỏ ngỏ. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu cụ thể về vấn đề quản trị dòng tiền trong các DN DMNY.
Chính vì vậy, NCS đã lựa chọn đề tài “Quản trị dòng tiền trong các DN ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu tổng quan các công trình liên quan đến đề tài luận án có ý nghĩa rất quan trọng, giúp NCS hệ thống hóa các vấn đề mang tính lý luận về hoạt động quản trị dòng tiền trong các DN. Từ đó, NCS có thể xác định rõ các vấn đề đã được nghiên cứu và khoảng trống còn bỏ ngỏ làm định hướng cho đề tài luận án của mình. Các công trình liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu có thể khái quát thành các nhóm cơ bản sau: 2.
Công trình nghiên cứu về dòng tiền 2. Các công trình nghiên cứu lý thuyết về dòng tiền Các công trình nghiên cứu lý thuyết về dòng tiền đã được các tác giả trong và ngoài nước tiếp cận trên nhiều khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu lý thuyết trong nước về dòng tiền Các công trình nghiên cứu trong nước về lý thuyết dòng tiền bao gồm các luận án tiến sĩ và các nghiên cứu chuyên sâu đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của dòng tiền. (1) Luận án tiến sĩ: “Ảnh hưởng của dòng tiền, rủi ro hệ thống, rủi ro phi hệ thống và tính thanh khoản chứng khoán đến đầu tư của DN Việt Nam” của Lê Hà Diễm Chi (2016) [13] đã nghiên cứu trường hợp dòng tiền của DN nhiều hạn chế tài chính so với DN ít hạn chế tài chính và trong trường hợp DN có sự kiểm soát của Nhà nước so với DN không có sự kiểm soát Nhà nước.
Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ đề cập tới một nhóm DN trong nền kinh tế và còn nhiều nhóm ngành khác chưa được đề cập tới. (2) Luận án Tiến sĩ: “Hoàn thiện phương pháp chiết khấu dòng tiền trong thẩm định giá trị DN ở Việt Nam” của Lâm Thị Thanh Huyền (2021) [12] đã đi sâu phân tích phương pháp chiết khấu dòng tiền được quy định trong các văn bản pháp lý cũng như việc vận dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền tại các DN có chức năng thẩm định giá ở Việt Nam. 3 Tuy nhiên, nghiên cứu chưa áp dụng phân tích cho phần lớn các DN đang hoạt động trên thị trường. (3) Nghiên cứu “Ý nghĩa của dòng tiền ròng đối với kiệt quệ tài chính của các DN niêm yết tại Việt Nam” của Bùi Kim Dung, Lê Hoàng Vinh, Vũ Thị Anh Thư (2020) [5] khẳng định dòng tiền ròng có ý nghĩa đối sự kiệt quệ tài chính của các DN.
Công trình nghiên cứu lý thuyết ngoài nước về dòng tiền Bên cạnh các công trình trong nước nghiên cứu về dòng tiền, một số tác giả ngoài nước cũng có các nghiên cứu sâu về vấn đề này. Cụ thể là: (1) Nghiên cứu “Economic Evaluation & Investment Decision Methods - Phương pháp đánh giá kinh tế & quyết định đầu tư” của John.S (1995) [71] có sáu chương đầu tiên trình bày giá trị thời gian của tiền và dòng tiền trước thuế, đồng thời áp dụng chỉ tiêu đánh giá các tình huống đầu tư khác nhau trong điều kiện lạm phát và rủi ro. Các chương sau tập trung vào tìm hiểu và phân tích các dự án với dòng tiền sau thuế. (2) Nghiên cứu “Sources of contractor’s payment risks and cash flow problems in the New Zealand construction industry: project team’s perceptions of the risks and mitigation measures - Rủi ro thanh toán của nhà thầu và các vấn đề về dòng tiền trong ngành xây dựng New Zealand: nhận thức của nhóm dự án và các biện pháp giảm thiểu rủi ro” của Jasper Mbachu (2011) [68] sử dụng phương pháp khảo sát mô tả trong hai giai đoạn và thực hiện thí điểm với các nhà thầu, nhà thầu phụ.
Các kết luận trong nghiên cứu có thể giúp nhà quản trị phân bổ hiệu quả các nguồn lực sẵn có để hạn chế rủi ro nhằm đạt được dòng tiền tối ưu trong mỗi dự án. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ áp dụng cho các DN xây dựng, còn rất nhiều ngành kinh tế khác chưa được đề cập tới. Công trình nghiên cứu thực nghiệm về dòng tiền 2. Công trình nghiên cứu thực nghiệm trong nước về dòng tiền (1) Luận án tiến sĩ: “Dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Nguyễn Thanh Hiếu (2015) [19] đã xây dựng giả thuyết nghiên cứu, các mô hình kiểm định giả thuyết nghiên cứu cụ thể, rõ ràng.
Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung dự báo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của các công ty có quy mô lớn. Nghiên cứu này dựa trên khảo sát xác định các nhân tố ảnh hưởng đến dòng tiền thông qua bảng câu hỏi và phỏng vấn 105 doanh nghiệp ngành xây 4 dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam năm 2018. Dựa trên kết quả phân tích EFA, nghiên cứu tìm ra 6 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến dòng tiền của công ty xây dựng. Đó là: môi trường vĩ mô; thời gian xây dựng; các khoản phải trả và phải thu; chi phi xây dựng; giữ lại; thanh toán khoản vay và thuế.
Nghiên cứu cũng cho thấy tác động của các biến đến quản lý dòng tiền thay đổi với giá trị trung bình từ 0,17 đến 0,518. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cường quản trị dòng tiền tại các công ty xây dựng niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. (3) Nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến dòng tiền của DN - Mô hình nghiên cứu và bằng chứng thực nghiện tại các công ty niêm yết thuộc ngành thực phẩm tại Việt Nam” của Trần Thị Minh Nguyệt, Đàm Thị Thanh Tú (2019) [26] sử dụng chỉ tiêu FCFE và FCFF làm đại diện cho dòng tiền của DN. Kết quả thực nghiệm là căn cứ để tác giả đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dòng tiền cho các công ty thực phẩm niêm yết tại Việt Nam.