Mở đầu Trang 4 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng kết một số nghiên cứu về quản trị ngân hàng 2. Giới thiệu về nghiên cứu của tác giả Y. Sree Rama Murthy Bài nghiên cứu này sẽ chủ yếu dựa vào nghiên cứu của Y.
Sree Rama Murthy. Mục tiêu nghiên cứu của tác giả là tính các chỉ số tài chính quan trọng của những ngân hàng thương mại lớn tại Oman và từ đó so sánh khả năng quản lý tài chính của các ngân hàng này. Sree Rama Murthy sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính từ năm 1997 đến 2004 của 6 ngân hàng thương mại tại Oman bao gồm: Bank Muscat, National Bank of Oman, Oman International Bank, Oman Arab Bank, Bank of Al Omani Al Fransi, Majan International Bank để tiến hành tính toán các chỉ số tài chính quan trọng và so sánh sự khác biệt giữa 6 ngân hàng này. Nghiên cứu của Murthy cũng so sánh sự khác biệt của các ngân hàng tại Oman với một số ngân hàng tại các quốc gia phát triển khác như HSBC, Barclays, Deutsche Bank, ANZ.
Dựa trên nghiên cứu của Sinkey (1989) và Prefontaine & Thiebault (1993). Tác giả Murthy chia các tỷ số tài chính quan trọng thành 6 nhóm bao gồm: Nhóm tỷ số khả năng sinh lợi (Profitability Management Ratios) Nhóm tỷ số khả năng quản lý rủi ro thanh khoản (Liquidity Risk Management Ratios) Nhóm tỷ số khả năng quản lý rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk Management Ratios) Nhóm tỷ số khả năng quản lý rủi ro tín dụng (Credit Risk Management Ratios) Chương 2 - Cơ sở lý thuyết Trang 5 Nhóm tỷ số khả năng quản lý tài khoản vốn (Capital Account Management Ratios) Nhóm tỷ số khả năng quản lý chi phí (Cost Management Ratios) Với phương pháp nghiên cứu này, tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt về khả năng sinh lợi, tình hình quản lý thanh khoản, quản lý rủi ro lãi suất, tài khoản vốn, rủi ro tín dụng và chi phí của các ngân hàng. Do nghiên cứu không đề cập đến tên các ngân hàng cụ thể mà mã hóa chúng trong quá trình phân tích nên nghiên cứu chỉ cho thấy được tình hình hoạt động của các ngân hàng tại Oman một cách tổng quan. Mô hình Dupont Mô hình Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, là kỹ thuật sử dụng để phân tích khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp.
Trong phân tích tài chính, mô hình Dupont được vận dụng để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính, và nhờ sự phân tích mối liên kết này, ta có thể phát hiện ra những nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định. Mô hình Dupont được ứng dụng cho nhiều ngành chứ không riêng phân tích ngân hàng. Bài nghiên cứu này sẽ ứng dụng mô hình Dupont để phân tích khả năng sinh lợi của ngân hàng. Dưới góc độ đầu tư, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn cổ đông (ROE), do vốn cổ đông là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản, mối quan hệ này được thể hiện như sau: hay: ROE = ROA × Lf Mô hình Dupont có thể được triển khai chi tiết thành: Chương 2 - Cơ sở lý thuyết Trang 6 hay: ROE = PM × AY × Lf Mô hình Dupont có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến suất sinh lợi của ngân hàng như khả năng quản lý chi phí và rủi ro tín dụng (PM), khả năng quản lý thanh khoản và cấu trúc tài sản (AY), khả năng quản lý tài khoản vốn (Lf).
Tính thanh khoản Ngân hàng thương mại kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác. Vốn tự có chỉ chiếm một tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn hoạt động nên việc kinh doanh của ngân hàng thương mại luôn gắn liền với một rủi ro mà ngân hàng nào cũng phải chấp nhận. Bởi vì trong hoạt động kinh doanh hằng ngày của mình, ngân hàng thương mại không những phải bảo đảm nhu cầu thanh toán, chi trả như mọi khi loại hình doanh nghiệp khác mà còn phải đảm bảo tốt nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng. Do đó, việc phân tích khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại có ý nghĩa rất quan trọng.
Nghiên cứu của Diamond và Dybvig (1983) chỉ ra rằng các đối tượng đi vay thường cần tiền phục vụ các khoản chi tiêu hiện tại để thu lợi hoặc tiêu dùng trong tương lai dài (ví dụ khách hàng doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết bị để tăng cường sản xuất, khách hàng cá nhân vay tiền để mua nhà ở), do đó họ thường kỳ vọng các khoản vay có thời gian đáo hạn dài. Ngược lại, đối tượng gửi tiền có thể có những nhu cầu về tiền mặt một cách bất ngờ và không thể đoán trước, nên họ thường muốn khoản tiền gửi có tính linh động. Điều này khiến ngân hàng phải sử dụng các khoản nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn, do đó thời gian đáo hạn của tài sản thường dài hơn nguồn vốn, điều này tạo nên rủi ro thanh khoản: Ngân hàng sẽ gặp khó khăn và có Chương 2 - Cơ sở lý thuyết Trang 7 nguy cơ phá sản nếu không đủ khả năng xử lý việc đáo hạn của các khoản nợ và cho vay, tình trạng này xảy ra khi lượng tiền được rút ra khỏi ngân hàng gia tăng đột biến. Theo nguyên tắc 12 chuẩn Basel về quản lý rủi ro thanh khoản, thì ngân hàng cần duy trì một lượng tài sản có tính thanh khoản đáng tin cậy như tiền mặt, trái phiếu chính phủ hoặc các tài sản khác có độ tin cậy tương đương để tự bảo vệ trong những tình huống khó khăn.
Độ lớn của lượng tài sản thanh khoản phụ thuộc vào khả năng chấp nhận rủi ro của ngân hàng. Ngân hàng phải đảm bảo rằng tài sản thanh khoản phải được duy trì với một số lượng hợp lý cho những tình huống bất ngờ và chi tiêu cho các hoạt động hàng ngày (chi phí hoạt động, hoạt động rút tiền,…). Rủi ro lãi suất Với vai trò là trung gian tài chính, ngân hàng phải đối mặt với nhiều hình thức rủi ro lãi suất, phổ biến nhất là rủi ro tái định giá (re-pricing), xảy ra khi có sự bất tương xứng về thời điểm đáo hạn giữa tài sản và vốn của ngân hàng khi môi trường lãi suất thay đổi. Rủi ro lãi suất sẽ làm thay đổi lợi nhuận của ngân hàng, theo chuẩn Basel (Principles for the Management and Supervision of Interest Rate Risk, 2004), ta có thể sử dụng một phương pháp phổ biến là phân tích độ chênh lệch (Gap analysis) để đo lường rủi ro lãi suất của ngân hàng.
Ta xác định khoảng chêch lệch (gap) này bằng cách lấy tài sản biến động theo lãi suất trừ cho nguồn vốn biến động theo lãi suất với độ biến động lãi suất được xác định trong một khoảng thời gian xác định. Tùy vào cách thức phân tích, khoảng thời gian lãi suất thay đổi này có thể được xác định dựa trên nhiều nhân tố như lịch sử hoạt động, giả định về sự biến đổi lãi suất trong tương lai hay khả năng quản lý của ngân hàng. Hệ số này âm (nguồn vốn biến động cao hơn tài sản biến động) có nghĩa là việc lãi suất thị trường tăng sẽ làm giảm thu nhập từ lãi suất của ngân hàng, ngược lại hệ số này dương (nguồn vốn biến động thấp hơn tài sản biến động) nghĩa là thu nhập ngân hàng giảm khi lãi suất giảm. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết Trang 8 Ngoài ra, khảo sát của Ahmed, Beatty, Takeda (1997) trên 152 ngân hàng cũng chỉ ra rằng các ngân hàng thường tập trung vào việc quản lý rủi ro lãi suất thông qua thu nhập ròng từ lãi suất (thu nhập ròng từ lãi suất thể hiện cơ chế tái định giá khi lãi suất thay đổi của ngân hàng tốt hay xấu).
Ta có thể ứng dụng điều này để phân tích việc quản lý rủi ro lãi suất của ngân hàng thông qua các tỷ số liên quan đến thu nhập và chi phí lãi suất như Asset Interest Yield, Break Even Yield và Net Interest Margin (ba tỷ số này sẽ được trình bày trong phần 2. Rủi ro tín dụng Rủi ro là yếu tố căn bản của thị trường tài chính, còn rủi ro tín dụng tuy cũ nhưng là vấn đề lớn nhất mà bất cứ ngân hàng nào cũng gặp phải. Chỉ những ngân hàng có hệ thống quản lý rủi ro tín dụng tốt mới có thể tồn tại lâu dài. Trong ngành ngân hàng, cho vay vốn là sản phẩm cốt lõi của ngân hàng thương mại, các khoản cho vay chiếm phần lớn tài sản và ảnh hưởng lớn nhất đến thu nhập của ngân hàng, các khoản cho vay này thường chiếm từ 50-70% tổng tài sản của ngân hàng (Koch, 1998) và khi cho vay, ngân hàng phải đối mặt với rủi ro là người vay nợ có khả năng bị phá sản, khi người đi vay càng thể hiện rõ nguy cơ không trả được nợ thì ngân hàng sẽ phải trích lợi nhuận ra để trích lập dự phòng rủi ro.
Ba tỷ số có thể dùng để đo lường khả năng quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng là: Dự phòng rủi ro, tỷ lệ nợ xấu và biên hiệu chỉnh rủi ro. Khả năng quản lý vốn Hệ số an toàn vốn (CAR) là thước đo quan trọng về khả năng quản lý vốn của ngân hàng. Theo nguyên tắc 1 mục 2 tiêu chuẩn Basel II, ngân hàng cần duy trì tỷ lệ an toàn vốn hợp lý tùy thuộc mức độ rủi ro và chiến lược bảo toàn vốn mà ngân hàng đang theo đuổi. Để xác định được tỷ lệ CAR hợp lý, ngân hàng phải quan tâm đến thời điểm hoạt động hiện tại đang thuộc giai đoạn nào trong chu kỳ kinh tế, và phải dự đoán được những sự kiện và khả năng thay đổi của thị trường mà có thể gây ảnh hưởng đến Chương 2 - Cơ sở lý thuyết Trang 9 hoạt động của ngân hàng.
CAR phải ở mức hợp lý để có khả năng chống chọi với rủi ro. Các tỷ số tài chính được dùng trong bài phân tích 2. Nhóm tỷ số khả năng sinh lợi (Profitability Management Ratios) Khả năng sinh lợi có thể được đo lường bởi các tỷ số khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của nghiên cứu.