Mở đầu 6 Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trình bày tóm tắt các kết quả chính của nghiên cứu từ dữ liệu đã thu thập được thông qua phân tích thống kê dựa trên phần mềm Eviews 5.1, từ đó đưa ra các đề xuất quản lý, cải thiện tính minh bạch thông tin cho doanh nghiệp Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng nêu lên những đóng góp cũng như hạn chế của đề tài và đề ra hướng nghiên cứu tiếp theo. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày nền tảng cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, nêu lên các nghiên cứu đã thực hiện trước đây cùng với những mô hình mà nghiên cứu tham khảo. Từ đó đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán TP.HCM cùng với các giả thuyết của nghiên cứu.1 Minh bạch thông tin Có nhiều khái niệm khác nhau về minh bạch thông tin được các nhà nghiên cứu đưa ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đối với lĩnh vực kinh tế tài chính, một số khái niệm được trình bày bao quát cụ thể như sau: Minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một tổ chức, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”. Theo Vishwanath và Kaufmann (2001), minh bạch nghĩa là “mô tả việc gia tăng luồng thông tin kinh tế, chính trị, xã hội đáng tin cậy và kịp thời về việc sử dụng khoản cho vay đến những nhà đầu tư cá nhân, uy tín về khả năng trả nợ của những người đi vay, về chính sách cung cấp dịch vụ, tiền tệ và tài khóa của chính phủ, cũng như các hoạt động của những tổ chức quốc tế. Ngược lại việc thiếu minh bạch có thể được mô tả như một người - cho dù là một bộ trưởng chính phủ, một tổ chức công ích, một doanh nghiệp, hoặc ngân hàng - cố ý từ chối không cho tiếp cận thông tin hoặc làm sai lệch thông tin hoặc không đảm bảo rằng thông tin được cung cấp có mối liên quan đầy đủ hoặc có chất lượng”. Minh bạch thông tin là một công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tạo dựng uy tín và thể hiện trách nhiệm với nhà đầu tư.
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã chứng minh kiểm toán là một công cụ hữu hiệu để nâng cao tính minh bạch của thị trường Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 8 cũng như ý thức của các doanh nghiệp về công khai thông tin. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, hiệu quả của các công cụ quản lý thị trường, trong đó có kiểm toán, các doanh nghiệp đã và đang có những chuyển biến tích cực về nhận thức đối với minh bạch hoá thông tin. Thông qua khái niệm trên, Vishwanath và Kaufmann (2001) cũng đưa ra đặc điểm của minh bạch thông tin gồm các thuộc tính dễ tiếp cận, tính toàn diện, tính liên quan, chất lượng và sự đáng tin cậy: a) Dễ tiếp cận: các nguyên tắc, luật lệ và quy định được đưa ra nhằm đảm bảo rằng thông tin phải có sẵn để cung cấp đến tất cả những người có quan tâm và phải được tiếp cận một các dễ dàng. Điều này là nhờ vào các tổ chức và các phương tiện như báo chí, phát thanh, truyền hình, bảng công bố thông tin, Internet, các buổi hội thảo, giao lưu, phát biểu… Tình trạng thiếu hiểu biết sẽ gây ảnh hưởng tới sự minh bạch thông tin.
Thông tin cần được tiếp cận một cách công bằng tới mọi người. b) Tính liên quan: thông tin cần đảm bảo tính liên quan, tức là phải đáp ứng đúng nhu cầu thông tin của người tiếp nhận. c) Chất lượng và tính tin cậy của thông tin: thông tin cần phải có sự tin cậy và chất lượng, kịp thời, đầy đủ, nhất quán, không thiên vị và được trình bày bằng ngôn ngữ rõ ràng, thông dụng. Những chuẩn mực đối với chất lượng thông tin phải được đảm bảo và được thẩm tra bởi những tổ chức trung gian hoặc kiểm toán độc lập bên ngoài.
Tóm lại, sự minh bạch thông tin thể hiện ở việc cung cấp thường xuyên và kịp thời, dễ dàng tiếp cận cho những đối tượng liên quan, đúng, chính xác và hoàn chỉnh, không thất thoát, nhất quán và được thể hiện thành những văn bản, tài liệu chính thức trên những kênh thông tin được quảng bá rộng rãi và chấp nhận. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 9 2.2 Minh bạch thông tin doanh nghiệp Minh bạch thông tin doanh nghiệp “là sự công bố thông tin xác thực, kịp thời cho cơ quan quản lý chuyên ngành và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán, đảm bảo rằng các nhà đầu tư đều có cơ hội tiếp cận các thị trường như nhau trong việc đánh giá tình hình hoạt động, hiệu quả sản xuất kinh doanh và rủi ro của doanh nghiệp để ra quyết định đầu tư”, đây là khái niệm được hai nhà nghiên cứu đưa ra là Vishwanath và Kaufmann (2001). Một hệ thống công bố thông tin hiệu quả, tăng cường minh bạch là điểm then chốt của việc giám sát công ty dựa vào thị trường và đóng vai trò chủ yếu giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình trên cơ sở được cung cấp thông tin đầy đủ. Công bố thông tin không đòi hỏi phải có chi phí về các vấn đề quan trọng.
Các vấn đề ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu và quyết định của nhà đầu tư được quy định tại Điều 27 Quy chế Quản trị Công ty. Thông tin yêu cầu phải công bố về doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp, các ngành nghề kinh doanh và tình hình quản trị công ty. Minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các nhà đầu tư nói riêng và thị trường nói chung. Đó là việc thực hiện minh bạch thông tin sẽ làm gia tăng sự bảo vệ cho các nhà đầu tư, tăng tính công bằng thật sự cho thị trường chứng khoán, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia đầu tư nhiều hơn vào thị trường, từ đó thúc đẩy và nâng cao tính thanh khoản của thị trường, góp phần phát triển tính hiệu quả của thị trường chứng khoán.
Mỗi lợi ích nói trên sẽ vừa mang tính thúc đẩy vừa là chức năng cho các lợi ích còn lại. Từ đó có thể thấy việc minh bạch thông tin sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp. Đó là nó không chỉ giúp cho bản thân doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí trong việc sử dụng vốn, thuận lợi hơn trong việc tiếp cận những nguồn vốn khác nhau, từ đó gia tăng mức vốn hóa thị trường của doanh nghiệp mà còn tạo niềm tin với nhà đầu tư, đem lại sự an tâm cho họ khi quyết định đầu tư vào doanh nghiệp. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 10 2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin doanh nghiệp Đề tài nghiên cứu về minh bạch thông tin doanh nghiệp đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện, nhất là ở các nước phát triển.
Đối với các nước đang phát triển thì đây vẫn còn là một đề tài khá mới mẻ và chưa có nhiều công trình về vấn đề này, nhất là tại Việt Nam. Các nghiên cứu trước đây trên thế giới cho rằng có hai loại đặc điểm lớn của doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến mức độ của công bố thông tin và minh bạch doanh nghiệp trong phạm vi một thị trường. Loại thứ nhất bao gồm các đặc điểm thuộc về tài chính của một doanh nghiệp, còn loại thứ hai bao gồm các đặc điểm thuộc về quản trị doanh nghiệp. Có một vài chứng cứ ủng hộ giả thuyết này.
Ví dự như Bushman, Piotroski and Smith (2003) căn cứ vào kết quả phân tích nhân tố đã nhóm được hai nhân tố này từ các biến đo lường môi trường thông tin ở phạm vi các công ty tại một số quốc gia. Cuối cùng, họ cũng đã nhận ra rằng hai nhân tố gồm các đặc điểm tài chính và các đặc điểm quản trị có liên quan đến hệ thống luật pháp và kinh tế chính trị. Dựa trên tìm hiểu này, nghiên cứu sẽ tiến hành kiểm chứng sự tác động của những đặc điểm về tài chính và quản trị doanh nghiệp đến tính minh bạch và công bố thông tin của doanh nghiệp trong phạm vi thị trường chứng khoán Việt Nam.4 Các đặc điểm tài chính của doanh nghiệp Tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng nhất quyết định giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp. Mặc dù giá giao dịch trên thị trường nhiều lúc không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu, nhưng nắm được thông tin tài chính của doanh nghiệp để phân tích các chỉ số tài chính cơ bản cũng giúp nhà đầu tư lựa chọn được những cổ phiếu tốt và an toàn.
Như vậy, những đặc điểm về tài chính có thể ảnh hưởng đến mức độ minh bạch trong việc công bố thông tin của doanh nghiệp bao gồm những yếu tố được xem xét sau: Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 11 2.1 Quy mô doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp thể hiện qua tổng số tài sản, vốn chủ sở hữu, số lượng lao động… của doanh nghiệp. Giả thuyết đặt ra rằng các doanh nghiệp có quy mô lớn thì minh bạch hơn doanh nghiệp quy mô nhỏ, điều này có thể giải thích rằng doanh nghiệp có quy mô lớn thì có nhà đầu tư lớn hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và thu hút nhiều sự chú ý hơn từ các nhà phân tích. Doanh nghiệp có quy mô lớn thì có bộ máy tổ chức lớn, cồng kềnh, phức tạp hơn nên họ có những phương pháp quản trị công ty tốt hơn, có bộ máy quản lý và điều hành tốt hơn, chuyên nghiệp hơn, có nguồn thông tin công bố cho nhà đầu tư tốt hơn ngoài những thông tin được quy định công bố của pháp luật hiện hành. Những công ty có quy mô lớn thường chịu tác động nhiều hơn từ các chính sách của chính phủ, chịu những quy định khắt khe hơn như chống độc quyền, mối đe dọa quốc hữu hóa và những trách nhiệm xã hội lớn hơn.