CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE HIEU QUA HOAT DONG VA CAC NHAN TO TAC DONG DEN HIEU QUA HOAT DONG CUA DOANH NGHIEP 1. TONG QUAN VE HIEU QUA HOAT DONG CUA DOANH NGHIEP 1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiệu quả được hiểu là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được từ quá trình hoạt động SXKD. Nói cách khác, bản chất của hiệu quả chính là kết quả của lao động xã hội, được xác định bằng cách so sánh lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy, thước đo hiệu quả của sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có.
Hiệu quả của doanh nghiệp được xem xét một cách tổng thể bao gồm nhiều hoạt động. Hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tài chính có mối quan hệ qua lại do đó khi phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cần phải xem xét hiệu quả của hai hoạt động này, bởi lẽ một doanh nghiệp có thể có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không có hiệu quả trong hoạt động tài chính hoặc hiệu quả hoạt động tài chính thấp đó là do các chính sách tai trợ không phủ hợp với tình hình chung của doanh nghiệp. Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh tổng hợp trong các doanh nghiệp. Ngô Đình Giao.
NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội - 1997, trang 408 cho rằng: “Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phi bỏ ra để có kết quả 10 đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó” Từ định nghĩa về hiệu quả kinh tế của một hiện tượng như trên ta có thê hiểu hiệu quả hoạt động SXKD là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra, nó biểu hiện mối tương, quan giữa kết quả thu được và những chỉ phí bỏ ra để có được kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này cảng lớn thì hiệu quả càng cao. Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm đối với nhu cầu của thị trường, Theo giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh phần II ~ trường đại học Kinh tế Đà Nẵng - của Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên [5] thì hiệu quả được xem xét giữa mối quan hệ đầu ra là kết quả của doanh nghiệp (doanh thu, lợi nhuận, giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm.) với đầu vào. là các nguồn lực sử dụng (tài sản, vốn chủ sở hữu, nguồn nhân lực. Như vậy, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản được tính như sau: Dau ra Hiệu quả hoạt động | = Đâu vào Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thường được xem xét trên hai góc độ là hiệu quả hoạt động kinh doanh và hiệu quả hoạt động tài chính 1.
Ðo lường hiệu quả của một doanh nghiệp Có nhiều chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp đối với các công ty cổ phần yết giá được nhiều nghiên cứu quan tâm là: Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời lãi cơ bản trên cổ phiếu phổ thông (EPS) dé nghiên cứu về hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp. Ba chỉ tiêu này được quan tâm nhiều vì nó liên quan đến lợi ích của nhà quản lý, chủ đầu tư, khách hàng, đối tác. và xét cho cùng đó là chỉ tiêu lợi nhuận đối với các bên có liên quan đến doanh nghiệp.
Lợi nhuận là chỉ tiêu 11 cuối cùng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu lợi nhuận là chỉ tiêu số tuyệt đối không có ý nghĩa nhiều trong công tác phân tích, so sánh, thống kê. Do vậy, lựa chọn các chỉ tiêu tỷ suất liên quan đến lợi nhuận như: ROA, ROE, EPS sẽ có ý nghĩa so sánh hiệu quả hoạt động giữa các chủ thể khác nhau về thời gian, không gian. Điều này hoàn toàn đúng với các nghiên cứu trước đây, theo thống kê của P.
Skandalis (2010) về các nghiên cứu trước đây trong việc sử dụng các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động trong số 14 nghiên cứu về hiệu quả hoạt động, thì có tới 13 nghiên cứu sử dụng các chỉ số liên quan đến khả năng sinh lời Trong các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời trên để có thể phản ánh một cách toàn diện về khả năng tạo ra lợi nhuận từ tài sản hay từ nguồn vốn doanh nghiệp thì nỗi trội hơn đó là hai chỉ tiêu được lựa chọn là ROA va ROE. Hai chỉ tiêu này có thể phản ánh tổng quan kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp về hiệu quả kinh doanh (ROA) và hiệu quả tài chính (ROE). Khi dùng ESP tác giả chỉ khẳng định thêm về đo lường hiệu quả. ~_ Tỷ suất sinh lời của tài sản (RO4) Chỉ tiêu tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) đã phản ánh một cách tông, hợp hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA) được xác định như sau: Lợi nhuận trước thuế ROA = ——————— __ X_ 100% Téng tai sin BQ Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 đồng đầu tư vào tài sản thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Tỷ suất sinh lời tài sản có thể được viết lại theo phương trình Dupont như sau: Lợi nhuận trước thuế Doanh thu ROA# ————————— x———————Xx I00% Doanh thu Tổng tai san BQ 12 Hay ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản Từ phương trình trên cho thấy tỷ suất sinh lời tài sản có mối quan hệ vớitỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản. Tuy nhiên chỉ tiêu ROA chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh vì lợi nhuận còn chịu tác động bởi chính sách tài trợ. ~ Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) Hiệu quả tài chính là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời đồng vốn chủ sở hữu.
Đó là mối quan tâm của chủ sở hữu của bất kỳ doanh nghiệp nào và sự tăng trưởng của nó qua thời gian là tiêu chí được hướng đến cuối cùng của nhà đầu tư. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE =—————_—————x 100% VCSH BQ Chỉ tiêu ROE phản ánh một trăm đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao thẻ hiện hiệu quả tài chính của doanh nghiệp là cảng lớn. Tiếp cận theo quan điểm của Bied — Charreton (1920) dưới dạng khai triển phương trình Du-pont về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu như sau: Lợi nhuận :.
Doanh thu Tổng tài sin BQ trước thuế x 100% ROE =x Tong tai sin Doanh thu VCSH BQ BQ Từ phương trình Dupont cho thay mối liên hệ giữa tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) với tỷ suất sinh lời doanh thu và hiệu suất quản lý tài sản. Hay ROE và hiệu quả hoạt động kinh doanh có mối quan hệ với nhau. Ngoài 13 ra, phương trình trên còn cho thấy mối quan hệ giữa hiệu quả tài chính với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và cấu trúc tài chính của doanh nghiệp. - Lợi nhuận ròng trên một cỗ phân (EPS): Lợi nhuận sau thuế EPS = Số cô phân thường hiện hành Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 cổ phần thường tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ.
Vai trò của hiệu quả hoạt động đối với doanh nghiệp Hiệu quả hoạt động là thước đo thành quả quan trọng của doanh nghiệp trong quản trị Thông qua việc tính toán hiệu quả hoạt động cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), đồng thời phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh đoanh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chỉ phí, tăng kết quả nhằm nâng. cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả hoạt động đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất đề thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh tế như là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện. Vì đối với các nhà quản trị khi nói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó.
14 Hiệu quả hoạt động là nhân tố thúc đây sự cạnh tranh và tiến bộ trong hoạt động sản xuất và kinh doanh. Trong bất kỳ một nền kinh tế nào, cạnh tranh là một yếu tố khiến cho. doanh nghiệp không thể tổn tại trên thị trường nhưng cũng có thể khiến doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Thị trường phát triển càng mạnh thì cạnh tranh.
ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Lúc này các doanh nghiệp càng cần thiết phải xem xét sự tương quan giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, giúp doanh nghiệp không những cung cấp được hàng hóa với giá thành hợp lý, tăng khối lượng bán ra, mà còn phải nâng cao được chất lượng mới có thể cạnh tranh cùng với các doanh nghiệp khác 1.2 CAC LY THUYET CO LIEN QUAN DEN HIEU QUA HOAT DONG CUA DOANH NGHIEP 1. Các lý thuyết về cấu trúc vốn - Lý thuyết cân đối chỉ phí và lợi ích (trade-ofƒ theory) hay lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn: Theo quan điểm của lý thuyết đánh đồi, những nhà quản trị tin rằng họ sẽ tìm được một cấu trúc vồn tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp.