Chương 1: Cơ sở l luận về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp; Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP Tập đoàn FLC; Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty CP Tập đoàn FLC. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐNCỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần phải có vốn.
Vốn có nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. C ng với sự phát triển của lịch sử kinh tế xã hội, các quan điểm về vốn xuất hiện và ngày càng hoàn thiện, có nhiều cách hiểu về vốn khác nhau của các nhà kinh tế học thuộc các trường phái kinh tế khác nhau. Các nhà kinh tế học cổ điển tiếp cận vốn với góc độ hiện vật. Họ cho rằng, vốn là một trong những yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi đó khi bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh người sáng lập nào cũng cần phải có tiềm lực nhất định như công cụ sản xuất, nhân lực hay công cụ đầu tư.
Cách hiểu này ph hợp với trình độ quản l kinh tế còn sơ khai - giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và bắt đầu phát triển. Theo một số nhà nghiên cứu tài chính thì vốn là tổng số tiền do những người có cổ phần trong công ty đóng góp và họ nhận được phần thu nhập chia cho các chứng khoán của công ty. Như vậy, các chuyên gia tài chính đã chú đến mặt tài chính của vốn, làm rõ được nguồn gốc cơ bản của doanh nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư thấy được lợi ích của việc đầu tư, khuyến khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát triển sản xuất. Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn Kinh tế học: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo”.
Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng. 9 Một số nhà kinh tế học khác cho rằng vốn không chỉ bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản tài chính mà còn cả các kiến thức về kinh tế kỹ thuật của doanh nghiệp đã tích luỹ được, trình độ quản l và tác nghiệp của các cán bộ điều hành c ng chất lượng đội ngũ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, lợi thế của doanh nghiệp.
Một số quan điểm khác lại cho rằng vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư. Các quan niệm về vốn trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Vì vậy, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản l vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, Ở trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm vốn kinh doanh trong cuốn Giáo trình Tài chính doanh nghiệp của PGS. TS Nguyễn Đình Kiệm và TS Bạch Đức Hiển (xuất bản năm 2008): “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”.
Đặc điểm của vốn trong doanh nghiệp Vốn có một số đặc điểm cơ bản sau: - Vốn phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể: Chỉ những tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới được coi là vốn. Không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại. - Vốn phải được duy trì ở một quy mô tối thiểu nhất định. Tức là phải tích lũy đến một lượng đủ lớn để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Bất kể một doanh nghiệp d kinh doanh loại hình, ngành nghề nào thì mục tiêu cuối c ng cũng là tìm kiếm lợi nhuận. Do vậy, họ luôn mong muốn nguồn lực ban đầu mà họ đầu tư vào đem lại cho nhà sáng lập và các thành viên trong tổ chức những nguồn lợi nhất định. Vốn như một công cụ đầu tư ban đầu của doanh nghiệp và bắt buộc phải được vận động trong thị trường để đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
10 - Vốn phải được bảo toàn. Vì vậy cần xem xét để lựa chọn dự án đầu tư có tính khả thi cao nhất, cần tránh những dự án đầu tư không an toàn. Bên cạnh đó cần chú đến thời gian hoàn vốn. - Vốn phải có giá trị về mặt thời gian.
Vì vốn của doanh nghiệp luôn chịu ảnh hưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả nên giá trị của vốn ở các thời điểm khác nhau là khác nhau. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản l chặt chẽ thì việc sử dụng vốn mới tiết kiệm và hiệu quả. Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có lượng tài sản nhất định. Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản đó chính là vốn của doanh nghiệp.
Chỉ khi nào có vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn của các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu nhà nước, cá nhân, tập thể. Nhưng d ở hình thức sở hữu nào thì vai trò của vốn cũng không thay đổi. Với mọi doanh nghiệp d ở hình thức nào thì muốn hoạt động được đều phải có lượng vốn nhất định.
Đây là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Tuỳ theo loại hình kinh doanh mà pháp luật quy định doanh nghiệp phải có số vốn pháp định nhất định. Tuỳ theo nguồn vốn kinh doanh cũng như phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có các tên gọi khác nhau như: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh…Như vậy, xét dưới góc độ luật pháp vốn là điều kiện để doanh nghiệp được thành lập, cũng là một trong những tiêu chí để xác định hình thức của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn mới có điều kiện để trang bị các thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh như nguyên liệu đầu vào, phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường,… c ng với việc ứng dụng khoa học vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn cũng quyết định đến khả năng đổi mới thiết bị, công nghệ, 11 phương pháp quản l của doanh nghiệp trong suốt quá trình hoạt động.
Số lượng vốn của doanh nghiệp lớn hay nhỏ là một trong những tiêu thức quan trọng để xếp doanh nghiệp vào quy mô lớn, hay nhỏ và nó cũng là điều kiện để sử dụng các tiềm năng hiện có cũng như các yếu tố đầu vào doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp vốn còn đóng vai trò thể hiện ở chức năng giám đốc tài chính đối với hoạt động sản xuất. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể đánh giá có hiệu quả kinh doanh hay không thông qua các chỉ tiêu sinh lời. Vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục từ khâu mua sắm vật tư, sản xuất cho đến tiêu thụ sản phẩm.
Hơn nữa trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, các DN muốn tồn tại và phát triển phải có các bí quyết công nghệ tiên tiến để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tiêu thụ sản phẩm, vì vậy vốn càng giữ vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó vốn còn ảnh hưởng đến phạm vi hoạt động đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp bởi tất cả nhũng hoạt động xây dựng phương án kinh doanh đầu tư máy móc sản xuất, dây chuyền công nghệ, xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, phân tích thị trường… đều phụ thuộc vào quy mô vốn nhất định.Việc đảm bảo tốt nguồn vốn kinh doanh còn giúp doanh nghiệp trong việc chống đỡ được những tổn thất, rủi ro, biến động thị trường, khủng hoảng tài chính…trong quá trình hoạt động, đặc biệt là những ngành kinh doanh nhiều rủi ro như tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản.Trong cơ chế thị trường c ng với việc mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh, việc có vốn và tập trung vốn nhiều hay ít vào doanh nghiệp có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đẩy mạnh kinh doanh. Đồng thời nó cũng là nguồn lực để phát huy tài năng của ban lãnh đạo doanh nghiệp, là điều kiện để thực hiện các chiến lược, sách lược, kinh doanh, và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế là dầu nhớt để bôi trơn cỗ máy kinh tế vận động. Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1.
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn 12 Theo nguồn hình thành vốn, vốn của doanh nghiệp bao gồm: vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả (NPT). Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thực sự thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có được thông qua việc huy động từ các nhà sáng lập khi doanh nghiệp mới thành lập và được bổ sung từ các nguồn khác như lợi nhuận không chia, quỹ đầu tư phát triển.hoặc giảm đi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt đối với nguồn vốn này. Nguồn VCSH là cơ sở đầu tiên của mỗi doanh nghiệp, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nó tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động hoàn toàn trong sản xuất kinh doanh.
Đây là nguồn vốn mang tính độc lập cao. Nợ phải trả là nguồn vốn được hình thành từ việc đi vay. NPT được chia thành nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn gồm các khoản vay ngắn hạn hoặc các khoản vay dài hạn nhưng đến hạn trả trong kỳ, các khoản nợ người cung cấp, người bán về hàng hóa, dịch vụ chưa trả tiền, các khoản nợ người mua, nợ thuế đối với Nhà nước.