CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan về Khu vực công, Đơn vị sự nghiệp có thu, Kế toán công, Chuẩn mực kế toán công và BCTC khu vực công 1. Tổng quan về khu vực công Định nghĩa về Khu vực công: Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về khu vực công dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Broadbent and Guthrie (1992), khu vực công bao gồm các tổ chức do nhà nước làm chủ, tài trợ và điều hành để sản xuất và cung cấp dịch vụ cho cộng đồng.
Tuy nhiên, khái niệm này không còn đầy đủ vì ngày nay có sự tham gia của khu vực tư nhân dưới sự điều hành của nhà nước trong việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ. Vì vậy trong một tranh luận, Broadbent and Guthrie (2008) cho rằng nên đổi tên “khu vực công” là “dịch vụ công” để phù hợp và chính xác về phạm vi hoạt động của khu vực công hiện nay. Còn theo Cẩm nang thống kê tài chính Chính phủ Việt Nam (2001) thì cho rằng: “Khu vực công hợp thành bởi Khu vực Chính phủ/ Chính phủ và các đơn vị công”. Và mới đây, Nguyễn Thị Thu Hiền (2015) cho rằng khu vực công là các cơ quan trung ương, địa phương và các đơn vị, tổ chức cung cấp dịch vụ công chịu sự kiểm soát của nhà nước hoặc do công quỹ tài trợ hoặc do nhà nước chỉ đạo và điều hành.
Vai trò của Khu vực công: Bàn về vai trò của khu vực công, nhà kinh tế học Jay K.Rosengrad – Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy Đại học Harvard viết trong Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (2005-2006) rằng khu vực công có vai trò chủ đạo và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế. Cụ thể, có thể nêu ra là: Cơ sở kinh tế cho những can thiệp của khu vực công; Định nghĩa và các điều kiện để có hiệu quả thị trường; Định nghĩa và các nguyên nhân dẫn đến thất bại thị trường; Các ví dụ về thất bại thị trường. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp có thu Định nghĩa về đơn vị sự nghiệp có thu: Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 16/2015/NĐ-CP có giải thích: “ Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.
Và Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 10/2002/NĐ- CP đề cập: “Đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước quyết định thành lập (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu). Như vậy có thể hiểu: Đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán. Cũng theo Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp có thu được phân loại thành: Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và Đơn vị sự nghiệp cóthu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Nguồn tài chính và nội dung chi của đơn vị sự nghiệp có thu: theo Điều 8, Điều 9 Nghị định số 10/2002/NĐ-CP đề cập: - Nguồn tài chính: (1)Ngân sách nhà nước cấp: a) Kinh phí hoạt động thường xuyên đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí.
b) Kinh phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao. c) Kinh phí thanh toán cho đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát.) theo giá hoặc khung giá do Nhà 9 nước quy định. d) Kinh phí cấp để thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định đối với số lao động trong biên chế thuộc diện tinh giản. đ) Vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang, thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
(2)Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị: a) Phần được để lại từ số phí, lệ phí thuộc ngân sách Nhà nước do đơn vị thu theo quy định. Mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng theo quy định của Nhà nước. b) Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ. Mức thu các hoạt động này do Thủ trưởng đơn vị quyết định theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ.
c) Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có). - Nội dung chi: (1)Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ cấp có thẩm quyền giao. (2)Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ. (3)Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành và cấp cơ sở; chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện đơn đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát .); chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định.
(4)Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định. 10 (5)Chi đầu tư phát triển, gồm: Chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, chi thực hiện các dự án đầu tư theo quy định. (6)Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao. (7)Các khoản chi khác.
Tổng quan về kế toán công Định nghĩa về Kế toán công: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Kế toán công là công cụ và phương tiện quản lý tài sản, các quỹ và thực hiện các giao dịch của Chính phủ”. Vai trò của Kế toán công: Nghiên cứu của tác giả Phạm Văn Đăng (2005), kế toán công có vai trò là một công cụ phục vụ cho quá trình quản lý NSNN; phục vụ cho các quyết định của đơn vị sử dụng ngân sách; công cụ để kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế - tài chính của Nhà nước; công cụ chứng minh việc chấp hành ngân sách của đơn vị sử dụng NSNN. Tổng quan về chuẩn mực kế toán công Định nghĩa về Chuẩn mực kế toán công: Theo Bùi Văn Mai (2007), “Chuẩn mực kế toán công là những quy định và hướng dẫn về những nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, đầy đủ, làm cơ sở ghi chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý khách quan về thực trạng tài chính và kết quả hoạt động của các đơn vị kế toán”. Vai trò của Chuẩn mực kế toán công: Cung cấp thông tin kế toán theo một chuẩn mực cho các quyết định về tài chính của Nhà nước trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô; đáp ứng yêu cầu quản lý thống nhất về tài chính Nhà nước và tổng hợp thông tin cho toàn bộ khu vực công; góp phần tăng cường tính minh bạch về tài chính và xác định trách nhiệm giải trình của các đơn vị thuộc khu vực công; tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động kế toán khu vực công; tạo nên một hệ thống thông tin có tính chuẩn mực, có khả 11 năng so sánh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.
Tổng quan về BCTC khu vực công Định nghĩa về BCTC khu vực công: Theo IPSASB (2016) thì BCTC khu vực công là các báo cáo được trình bày theo một cấu trúc chặt chẽ về tình hình tài chính của đơn vị và các giao dịch được thực hiện bởi một đơn vị thuộc khu vực công. Mục đích của BCTC là cung cấp những thông tin về tình hình tài chính, tình hình hoạt động và các luồng tiền của một đơn vị thuộc khu vực công cho một loạt người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định và đánh giá phân bổ nguồn lực. Cũng theo IPSASB (2016), mục đích chính của BCTC của các tổ chức khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng cho mục đích giải trình và mục đích ra quyết định, minh bạch, giải trình. Theo IPSASB (2006), mục đích BCTC khu vực công là cung cấp thông tin hữu ích cho việc ra quyết định và để chứng minh trách nhiệm của đơn vị trong các nguồn lực được giao phó IPSASs phân biệt hai loại BCTC khác nhau cho khu vực công đó là: BCTC cho mục đích chung và BCTC cho mục đích đặc biệt.
Về BCTC cho mục đích chung: Mục đích chính: là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng cho các mục đích giải trình trách nhiệm và cho các mục đích ra quyết định. Đặc tính thông tin trình bày: Tính dễ hiểu, Tính thích hợp và đáng tin cậy, Tính trọng yếu, Tính trung thực, Tính trung lập, Tính so sánh được, Tính kiểm chứng được. - Tính dễ hiểu (Có thể hiểu được): thông tin được phân loại và trình bày đặc trưng một cách rõ ràng và chính xác. Lúc này người đọc được giả thiết là có một kiến thức 12 nhất định về kinh tế, kinh doanh, kế toán và thiện chí, nổ lực để đọc BCTC.
Tuy nhiên, thông tin về một vấn đề phức tạp nhưng cần thiết cho việc ra quyết định không được loại trừ khỏi BCTC chỉ vì nó khó hiểu đối với một số đối tượng sử dụng. - Tính thích hợp: TTTC thích hợp là thông tin có thể tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng BCTC, ngay cả khi một số người sử dụng BCTC không tận dụng lợi thế hoặc đã nắm được thông tin đó từ các nguồn khác. Thông tin hữu ích khi nó thích hợp với nhu cầu đưa ra quyết định của người sử dụng. Thông tin thích hợp khi nó có thể giúp người đọc đánh giá quá khứ, hiện tại hoặc tương lai, hoặc xác nhận, điều chỉnh các đánh giá trước đó.
Tính thích hợp bao gồm tính dự đoán và tính xác nhận, hai đặc điểm này quan trọng với nhau. Tính thích hợp của thông tin phụ thuộc vào nội dung và tính trọng yếu. - Đáng tin cậy: Đáng tin cậy nghĩa là không có sai sót trọng yếu và không bị thiên lệch, đồng thời phản ánh trung thực vấn đề cần trình bày. Thông tin có thể thích hợp nhưng không đáng tin cậy.