Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 123doc 8! CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2.1 Khái niệm tài chính vi mô Mặc dù đã xuất hiện khá lâu trên thế giới, nhưng khái niệm tài chính vi mô vẫn còn tương đối mới mẻ đối với Việt Nam. Tài chính vi mô liên quan đến những giao dịch tài chính nhỏ. Trước kia, Tài chính vi mô (TCVM) được coi là “phương pháp tín dụng sử dụng các cơ chế hiệu quả thay thế vật thế chấp để phân phối và thu hồi vốn vay kinh doanh ngắn hạn cho các nhà doanh nghiệp nhỏ (hoặc doanh nghiệp nhỏ tiềm năng), với triển vọng là những doanh nghiêp nhỏ của khách hàng sẽ tăng trưởng, tạo thu nhập cho họ và đôi khi tạo thêm việc làm, đưa người nghèo thoát khỏi nghèo khổ” (ILO, 2005). Định nghĩa về tài chính vi mô , theo quan điểm của ADB, TCVM là “việc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khỏan tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ”.Ledgerwood “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp trong xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư” 2.2 Khách hàng của tài chính vi mô Đối tượng của tài chính vi mô là những người nghèo, có thu nhập thấp nhưng có việc làm cụ thể.
Họ cần vốn để mở rộng kinh doanh, nhằm làm tăng thu nhập. Trong hoạt động tài chính vi mô thương mại, những người rất nghèo hoặc không có việc làm ổn định không thể được coi là đối tuợng để tiếp cận. Để xác định đối tượng cho các hoạt 123doc 9! động tài chính vi mô, thông thường các nhà xây dựng chương trình căn cứ vào các chỉ tiêu để xác định ranh giới nghèo đói. Đường ranh giới này lấy chỉ tiêu quan trọng nhất là thu nhập.
Nếu một người có thu nhấp thấp hơn 1$/ngày hay 350$/năm thì được coi là người nghèo. Nhưng không chỉ những người nằm dưới ranh giới nghèo đói mà những người nằm ở phía trên nhưng gần ranh giới nghèo đói cũng là đối tượng của hoạt động tài chính vi mô.3 Các dịch vụ tài chính vi mô và mục đích sử dụng “Ở Việt Nam, sản phẩm chủ yếu vẫn là tín dụng, tuy nhiên cũng có một vài tổ chức bắt đầu mở rộng sản phẩm mà họ cung cấp. Các món vay nhỏ thường được đầu tư cho: (a) sản xuất nông nghiệp như trồng rau và cây ăn quả, chăn nuôi; (b) các dịch vụ như xây dựng, sửa chữa máy móc, dịch vụ thẩm mỹ; (c) nuôi cá và nuôi trồng thủy sản; (d) tiểu thủ công; hoặc (e) buôn bán nhỏ. Mức vốn thường nhỏ hơn (từ 50-500USD) và lãi suất cao hơn so với vốn vay của ngân hàng thương mại (khoảng 1-2%/tháng).
Vốn nhỏ giúp các khách hàng dễ quản lí và hoàn trả nợ của họ, lãi suất cao hơn cho phép người cung cấp TCVM bù đắp được chi phí cao của việc cho người nghèo vay” (ILO, 2005).4 Tác động của tài chính vi mô với giảm nghèo ở VN Trong dự án nghiên cứu của Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam, tài trợ bởi Citi Bank, Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2011) tiến hành nghiên cứu điều tra sơ cấp 971 khách hàng tài chính vi mô tại 2 tỉnh Tiền Giang và Hải Dương trong thời gian từ tháng 6-12/2011. Kết quả kiểm định khẳng định các giả thuyết sau: (H1) Tài chính vi mô có tác động tích cực tới thu nhập và tài sản của khách hàng; (H2) Tài chính vi mô giúp khách hàng tăng cường năng lực xã hội; (H3) Khách hàng của các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM thuộc các phân đoạn khác nhau, vì vậy mức độ tác động đến gi- ảm nghèo khác nhau; (H4) Mức sống chung của người dân tăng lên theo thời gian, do 123doc 10 ! nhiều nhân tố tác động khác nhau; (H5) Khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô có mức độ hài lòng về dịch vụ cao hơn các tổ chức khác.2 BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM CỦA CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG MFI Trong phần sau đây người thực hiện đề tài sẽ thảo luận về các kết quả nghiên cứu liên quan xác định các biến ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô được thực hiện bởi các nhà nghiên cứu khác nhau trên thế giới. Các nghiên cứu của các tác giả khác nhau, về các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động, cho thấy các kết quả khác nhau về các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô. Lược sử nghiên cứu này được xem xét với mục đích phát triển các bằng chứng thực nghiệm cho các biến độc lập mà tác giả nghĩ rằng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững hoạt động và tài chính của các tổ chức tài chính vi mô Việt Nam.1 Tác động của lợi tức trên danh mục cho vay Lợi tức trên danh mục đầu tư là một tỷ lệ phần trăm cho thấy lợi nhuận gộp trung bình trên danh mục đầu tư.
Nói chung, Lợi tức trên danh mục đầu tư là chỉ số ban đầu của MFIs phản ảnh khả năng tạo ra doanh thu của một tổ chức đó để trang trải chi phí tài chính và chi phí hoạt động. Nó đo lường gía trị mà MFIs thực nhận từ lãi suất mà các khách hàng chi trả. Lợi tức trên tổng dư nợ cho vay (lãi suất) cho thấy hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô trong việc tạo ra doanh thu tiền mặt từ danh mục đầu tư hiện tại của họ. Nó đo lường tất cả các lãi suất và phí tính trên dư nợ cho vay trong một khoảng thời gian.
Để duy trì bền vững, Nadiya (2011) đã đề nghị các nhà quản lý phải thiết lập lãi suất của các tổ chức TCVM, đảm bảo bù đắp đầy đủ tổng chi phí của nó; bao gồm chi phí 123doc 11 ! vốn, chi phí giao dịch và dự phòng rủi ro tín dụng. Do đó, tính bền vững của tài chính vi mô phụ thuộc vào thu nhập từ lãi họ kiếm được từ hoạt động của họ. Các kết quả nghiên cứu của Cull (2005) chỉ ra rằng lợi tức trên danh mục đầu tư có ảnh hưởng tích cực và quan trọng lên tất cả ba chỉ số lợi nhuận (tự vững về tài chính, tự vững về hoạt động, và ROA), tổ chức cho vay theo từng cá nhân có xu hướng được nhiều lợi nhuận hơn khi lãi suất trung bình của họ là cao. Tuy nhiên, các nghiên cứu tương tự chỉ ra rằng kết quả trên không đúng đối với các ngân hàng nông thôn và mô hình cho vay theo nhóm đoàn kết.
Hệ số tương quan của lợi tức trên tổng dư nợ cho vay cho của cả hai loại phương thức cho vay là không có ý nghĩa (ngoại trừ ngân hàng nông thôn qua thông số kỹ thuật ROA) và âm. Kiểm định giả thuyết thống kê bằng không của hệ số tương quan này đối với ngân hàng nông thôn cho kết quả: không có ý nghĩa. Như vậy, đối với các ngân hàng nông thôn không có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa lợi tức trên danh mục cho vay và lợi nhuận. Điều này cũng đúng đối với mô hình cho vay theo nhóm; trong khi có các bằng chứng cho thấy một liên kết tích cực mạnh mẽ giữa lãi suất và thành quả tài chính của các tổ chức cho vay cá nhân.
Phát hiện của Nyamsogoro (2010) chỉ ra rằng có một mối quan hệ tích cực có ý nghĩa giữa lợi tức trên tổng dư nợ cho vay và tính bền vững tài chính. Điều này cung cấp bằng chứng cho thấy sự hiệu quả của các tổ chức tài chính vi mô trong việc tạo doanh thu tiền mặt sẽ ảnh hưởng tích cực đến tính bền vững về tài chính của họ. Các kết quả kinh tế lượng về mối quan hệ của cả mức lãi suất và dư nợ bình quân chỉ ra rằng cả lãi suất và dư nợ cho vay bình quân đang ảnh hưởng đáng kể đến tính bền vững tài chính. Theo nghiên cứu này cả biến là tích cực và có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 1%.
123doc 12 ! Một nghiên cứu của Rombrugghe, Tenikue và Sureda (2007) chỉ ra; lợi tức trên danh mục cho vay ảnh hưởng đến khả năng tự túc tài chính (FSS) của tổ chức tài chính vi mô. Nó đã chỉ ra rằng mối quan hệ dương giữa lợi tức và FSS thông qua các khoản thu lãi và phí. Về nghiên cứu các yếu tố quyết định chỉ số tự vững tài chính, Woller và Schreiner, đã chỉ ra rằng lợi tức trên danh mục đầu tư có mối quan hệ mạnh mẽ và có ý nghĩa thống kê với khả năng tự túc tài chính của các tổ chức tài chính vi mô. Rombrugghe et al (2007) đã kết luận rằng lãi suất cho vay ảnh hưởng đến thành quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô (cả chỉ tiêu bền vững tài chính và hoạt động).
Kết quả này được hỗ trợ bởi nghiên cứu của Conning (1999), khẳng định rằng sự bền vững tài chính có liên quan với lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Cull (2005) cho thấy, lãi suất cải thiện hiệu suất tài chính chỉ có ý nghĩa đối với phương thức cho vay cá nhân. Adongo và Stork (2005) với phát hiện của họ dựa trên phân tích MFIs ở Namibia cho thấy rằng với bộ dữ liệu quan sát, tất cả các tổ chức tài chính vi mô là không bền vững về mặt tài chính. Lý do là, theo nghiên cứu, họ đã không tính lãi suất đủ cao để trang trải tất cả chi phí tài chính; chi phí phi tài chính và rủi ro tín dụng.
Từ đây chúng ta có thể kết luận rằng, mặc dù nó không được hỗ trợ về mặt thống kê, lãi suất là một yếu yếu tố quyết định cho sự tự vững về tài chính của các tổ chức tài chính vi mô.2 Tác động của số người vay hiện tại Crombrugghe và cộng sự (2007), trong nghiên cứu của họ khẳng định một thực tế là tăng số lượng khách hàng vay của mỗi MFIs sẽ giảm chi phí vận hành trung bình và sẽ giúp chi phí vận hành thấp trên mỗi khách hàng vay. Việc gia tăng số lượng người vay trên mỗi cán bộ thực địa sẽ nâng cao các chỉ số bền vững: FSS và OSS. Trong 123doc 13 !