Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chương này tổng thuật các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứutrên cơ sở đó, bổ sung, hoàn thiện thêm để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến phát triển thị trường vốn xanh. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày về phương pháp thu thập và xử lý các dữ liệu đầu vào phục vụ quá trình nghiên cứu.
Chương 3: Kinh nghiệm quốc tế. Chương này trình bày tóm tắt về các ý tưởng và kinh nghiệm của quốc tế trong việc phát triển thị trường vốn xanh. Chương 5: Thực trạng phát triển thị trường vốn xanh và hàm ý chính sách cho Việt Nam. Chương này trình bày các khuyến nghị cho quá trình phát triển một thị trường vốn xanh tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨUVÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hiện có rất nhiều tài liệu với định hướng nghiên cứu “xanh” trên phạm vi thế giới, bao gồm các tài liệu nghiên cứu về vấn đề rộng (như kinh tế xanh, các ngành/lĩnh vực của nền kinh tế xanh, xây dựng nền kinh tế xanh của mỗi quốc gia) hoặc nghiên cứu về vấn đề hẹp và nặng tính kỹ thuật (như giải pháp kỹ thuật cho một ngành, lĩnh vực, hoạt động, dự án xanh nào đó).Nền tảng của các nghiên cứu này là ý tưởng về mối liên hệ giữa nền kinh tế xanh và sự phát triển bền vững. Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp về tăng trưởng xanh cho tổng thể nền kinh tế nói chung hoặc cho những ngành, lĩnh vực cụ thể. Phần lớn nội dung các tài liệu này hướng đến các ngành kỹ thuật, công nghiệp, năng lượng, hóa học, nước sạch….vốn có sự liên hệ trực tiếp tới tình trạng ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế cần huy động nguồn vốn khổng lồ nhằm triển khai các giải pháp phục vụ tăng trưởng xanh/nền kinh tế xanh, nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia đã nghiên cứu và triển khai nhiều giải pháp tài chínhhay còn gọi là “tài chính xanh”. Mặc dù vậy, theo Lindenberg (2014), hiện chưa có một cách hiểu chính xác và được chấp nhận chung về tài chính xanh. Điều này là do 02 nguyên nhân (i) các ấn phẩm đều không cố gắng để định nghĩa về tài chính xanh, (ii) các định nghĩa về tài chính xanh hiện có bao gồm những nội dung rất khác nhau. Trên thực tế, khái niệm tài chính xanh bắt đầu trở nên phổ biến vào đầu những năm 1990 khi Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEPFI) đề xuất một chiến lược quản lý về mặt môi trường cho ngành tài chính, cho rằng “cách thức kinh doanh của ngành có thể gây tác động lớn đối với môi trường” 6 z (UNEPFI, 2010).
Theo Ngân hàng thế giới, tài chính xanh được định nghĩa là việc thành lập, phân phối và sử dụng các quỹ nhằm mục đích tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ngăn biến đổi khí hậu, ngăn ngừa việc thải các chất độc ra môi trường, hướng tới tương lai phát triển bền vững, phát triển kinh tế - xã hội mà không phải trả giá bởi môi trường ô nhiễm. Thị trường vốn xanh là một trong những giải pháp tài chính xanh. Đây là một hướng tiếp cận mới được đưa ra ở một số nước APEC bao gồm cả Việt Nam, xuất phát từ mục tiêu của Chính phủ muốn thu hút nguồn đầu tư tư nhân cho các chương trình, dự án xanh qua thị trường vốn. Trên thực tế trong khu vực APEC cũng như trên phạm vi thế giới, vấn đề này không được tiếp cận một cách riêng rẽ mà nằm trong tổng thể các giải pháp thực hiện tài chính xanh.
Vì lẽ đó, hiện chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt và toàn diện nào về vấn đề này. Hiện các tài liệu có liên quan đến thị trường vốn xanh thường tiếp cận theo 3 hướng: (i) các công cụ tài chính để thu hút vốn cho các chương trình, dự án xanh; (ii) vai trò của thị trường tài chính - ngân hàng thu hút vốn cho các chương trình, dự án xanh; (iii) nghiên cứu về sự phát triển bền vững cho thị trường vốn. Với hướng nghiên cứu thứ nhất, Nannette Lindenberg (4/2014), các công cụ đầu tư xanh được chia thành 3 nhóm riêng biệt: (i) nhóm công cụ huy động vốn trực tiếp cho các chương trình, dự án xanh như các khoản vay, trợ cấp, cổ phiếu xanh …,(ii) các công cụ không huy động vốn trực tiếp nhưng giúp giảm thiểu rủi ro như bảo hiểm, tài trợ kỹ thuật cho các chương trình, dự án xanh…và (iii) nhóm công cụ huy động vốn cho các quỹ tư nhân có mục đích đầu tư xanh, điển hình là các công cụ trái phiếu xanh, các quỹ đầu tư xanh… Ngoài ra, một số tài liệu khác cũng nghiên cứu chuyên biệt từng loại sản phẩm tài chính xanh cho thị trường vốn như: trái phiếu xanh trong các nghiên 7 z cứu của Patrick T.Lam và Kack S.Yu (2013), Christoffer Falsen và Patrik Jsohansson (2014), Sean Kidney, Beate Sonerud, Padraig Oliver (2015)… và chỉ số xanh trong nghiên cứu của Marion Allet và Pamiga (2014)… Với hướng nghiên cứu thứ hai, điển hình là chuỗi tài liệucủa UNEP (Inquiry: Design of a sustainable financial system), cho rằng hệ thống tài chính có vai trò vô cùng quan trọng đối với phát triển bền vững. Các nội dung phát triển thị trường vốn xanh được đề ra xoay quanh một số vấn đề: chào bán chứng khoán ra công chúng nhằm huy động vốn cho các công ty, chương trình, dự án xanh, phát triển chỉ số xanh, trái phiếu xanh, các quy định về công bố thông tin liên quan đến môi trường… Báo cáo tại Hội nghị APEC (2010) nêu rõ thị trường vốn “sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với tăng trưởng xanh”, đồng thời định hướng chính sách phát triển thị trường vốn xanh bao gồm: nâng cao các yêu cầu về báo cáo và công bố thông tin về môi trường, xây dựng hệ thống đánh giá tính “xanh” của các dự án, xây dựng chỉ số TTCK xanh… Điển hình của hướng tiếp cận thứ ba là Sáng kiến các SGDCK bền vững (SSE) được khởi xướng năm 2009 với khái niệm phát triển bền vững cho thị trường vốn.
Ở đây, khái niệm “bền vững” được hiểu ở phạm vi rộng hơn so với khái niệm “xanh”, không chỉ đề cập đến các yếu tố về môi trường mà nó còn mở rộng thêm các yếu tố về quản trị và xã hội (ESG). Nhiều báo cáo nghiên cứu trong khuôn khổ sáng kiến tập trung vào các nguyên tắc hướng dẫn và các thông lệ tốt về chế độ và nội dung công bố thông tin, các nguyên tắc đầu tư có cân nhắc đến các yếu tố ESG, các thông lệ tốt về quản trị công ty. Bên cạnh đó, cũng có một số nghiên cứu khác với cách tiếp cận tổng quan hơn về sự phát triển bền vững của thị trường vốn.Cụ thể, AVIVA (2014) cho rằng thất bại chính của thị trường vốn liên quan đến phát triển bền vững 8 z là sự phân bổ sai nguồn vốn.Điều nàylà kết quả của sự thất bại của các chính phủ trên toàn cầu trong việc chuyển các chi phí xã hội và môi trường vào kết quả kinh doanh của công ty.Sáng kiến các SGDCK bền vững (SSE) (2014) giải thích lý do cần xây dựng một khung khổ riêng cho thị trường vốn xanh là do các trở ngại cho đầu tư vào phát triển bền vững như: tín hiệu giá (chưa tính đến các chi phí môi trường vào giá của các khoản vốn), sự thiếu vắng các quy định và chính sách hỗ trợ, thất bại thị trường, thông tin bất cân xứng… Bên cạnh các tài liệu quốc tế, ở trong nước, trong khả năng tìm hiểu và tiếp cận của tác giả chưa được tiếp cận công trình nghiên cứu nào đã công bố về nội dung thị trường vốn xanh nói chung và áp dụng cho điều kiện của Việt Nam nói riêng. Phần tổng thuật trên đãcho thấy khoảng trống nghiên cứu cho Luận văn về thị trường vốn xanh, vốn là một khái niệm và cách thực hiện mới không chỉ ở Việt Nam mà còn trên phạm vi thế giới.
Nội dung của Luận văn nghiên cứu tổng thể về thị trường vốn xanh trên các vấn đề: lý thuyết, thực tiễn chính sách và khuyến nghị cho Việt Nam là một vấn đề mới và mang tính ứng dụng cao trong bối cảnh nước ta hiện nay.Chính vì vậy, việc Luận văn nghiên cứu về thị trường vốn xanh vừa đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của thực tế, vừa đảm bảo tính mới, tính khoa học cần có của bài nghiên cứu. Cơ sở lý luận về phát triển thị trƣờng vốn xanh 1. Khái niệm về phát triển thị trường vốn xanh 1. Khái niệm thị trường vốn xanh Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, tài chính xanh “là việc thành lập, phân phối và sử dụng các quỹ nhằm mục đích tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ngăn biến đổi khí hậu, ngăn ngừa việc thải các chất độc ra môi trường, hướng tới tương lai phát triển bền vững, phát triển kinh tế - xã 9 z hội mà không phải trả giá bởi môi trường ô nhiễm”.
Theo đó, nội dung tài chính xanh bao gồm: (i) Đầu tư tài chính công và tư nhân (bao gồm cả chi phí dự phòng và chi phí vốn) trong những lĩnh vực sau: - Các sản phẩm và dịch vụ môi trường (như quản lý nước, bảo vệ đa dạng sinh học và cảnh quan); - Phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục những thiệt hại cho môi trường và khí hậu (như năng lượng hiệu quả). (ii) Các nguồn tài chính cho các chính sách công (bao gồm chi phí hoạt động) nhằm khuyến khích việc thực hiện các dự án và sáng kiến giảm nhẹ hoặc thích ứng môi trường và thiệt hại môi trường (như giảm thuế cho năng lượng tái tạo); (iii) Các thành phần của hệ thống tài chính liên quan cụ thể tới đầu tư xanh như Quỹ khí hậu xanh, ngân hàng xanh, các công cụ tài chính cho đầu tư xanh (ví dụ trái phiếu xanh, chứng chỉ quỹ xanh) và thị trường giao dịch của nó, bao gồm khung điều kiện cụ thể về pháp lý, kinh tế và bộ máy. Từ khái niệm trên, có thể thấy thị trường vốn xanh là một bộ phận của tài chính xanh. Trên thực tế, đây là một trong những cách hiểu thông thường và cơ bản nhất về thị trường vốn xanh.