CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về các yếu tố tác động tới quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1. Cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Khái niệm thị trường trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu là một loại chứng khoán nên thị trường trái phiếu là một bộ phận của TTCK nói chung.
Collin (2003) định nghĩa: “Thị trường trái phiếu là nơi mà các trái phiếu được giao dịch”. Trong đó, giao dịch là việc mua và bán các trái phiếu. Thị trường TPDN là nơi mà TPDN được mua đi và bán lại. Theo Mizen và Tsoukas (2014): “Thị trường TPDN bao gồm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.” Thị trường sơ cấp – thị trường phát hành Là thị trường mà trái phiếu được doanh nghiệp bán cho các NĐT nhằm huy động vốn.
Việc mua bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp thường được tiến hành thông qua (i) trung gian là các ngân hàng, (ii) doanh nghiệp phát hành trực tiếp trên TTCK (iii) bán trực tiếp cho các NĐT. Mục tiêu của phát hành TPDN là đảm bảo huy động đủ vốn theo dự kiến (phát hành hết trái phiếu), kịp thời gian, và chi phí phát hành thấp. Mục tiêu này có thực hiện được hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mệnh giá, lãi suất, thời hạn, rủi ro và tính thanh khoản của TPDN đối với người mua. TPDN có thể được phát hành theo các cách sau: Tự phát hành trái phiếu: Tự phát hành là phương pháp thường được dùng cho các tổ chức đã có kinh nghiệm trong hoạt động này.
Với doanh nghiệp được xếp hạng cao, hoặc khi TTCK phát triển, việc tự phát hành sẽ đỡ tốn kém chi phí. Phương pháp này cũng phù hợp với đợt phát hành có giá trị lớn (Tiết kiệm chi phí phát hành), hoặc phát hành cho các đối tác riêng biệt (Xác định cụ thể giá trị phát hành, người mua). Đại lý phát hành Trong trường hợp này doanh nghiệp phát hành trái phiếu thuê đại lý phát hành - luan an người bán hộ. Tổ chức đại lý phát hành thường là các trung gian tài chính lớn, có kinh nghiệm phát hành, mạng lưới và quan hệ với các tổ chức kinh tế và công chúng rộng rãi nên khả năng phát hành thành công thường cao hơn.
Bảo lãnh phát hành Đây là hình thức phát hành mà tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với TCPH về một số hoạt động: (1) thực hiện các thủ tục trước khi chào bán trái phiếu, (2) nhận mua một phần hay toàn bộ số trái phiếu được phát hành để bán lại, hoặc (3) mua số trái phiếu chưa được bán hết, hoặc (4) hỗ trợ TCPH trong việc chào bán trái phiếu. Chào bán trái phiếu ra công chúng Là việc chào bán trái phiếu theo một trong các phương thức sau đây: a) Thông qua phương tiện truyền thông đại chúng, kể cả Internet; b) Chào bán cho số lượng NĐT xác định; c) Chào bán cho một số lượng NĐT không xác định. TCPH thực hiện chào bán ra công chúng phải đăng ký với cơ quan quản lý và có thể niêm yết TPDN trên thị trường tập trung như SGD chứng khoán. Phát hành riêng lẻ Ngược lại với phát hành ra công chúng, phát hành riêng lẻ là việc chào bán trái phiếu cho các đối tượng nhất đinh.
Do số lượng người mua nhỏ, công tác quảng cáo chào bán sẽ đơn giản hơn. Trái phiếu phát hành riêng lẻ không được niêm yết trên thị trường tập trung. Thị trường thứ cấp – thị trường giao dịch Là thị trường mà những trái phiếu đã phát hành được mua đi bán lại giữa các NĐT. TPDN đã phát hành sẽ được giao dịch trên thị trường thứ cấp.
Thông thường, các trái phiếu này được mua bán theo 2 hình thức: tập trung và phi tập trung (OTC) Giao dich tập trung Đối với phương thức này, các TPDN được niêm yết và giao dịch tại các SGDCK. Tại đó, các trái phiếu được quản lý chặt chẽ bởi hệ thống quy định rõ ràng khi niêm yết và quy trình về phương thức giao dịch, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Giao dịch phi tập trung (OTC) TPDN giao dịch trên OTC được thực hiện thanh toán theo hình thức thanh toán trực tiếp bằng tiền và chuyển giao trái phiếu theo hình thức chứng chỉ vật chất tại TCPH hoặc đại lý chuyển nhượng.” luan an luan an 1. Hàng hóa trên thị trường Khái niệm trái phiếu doanh nghiệp Theo Ross và cộng sự (2002), “trái phiếu là một khoản nợ chỉ có lãi suất, tức là người vay sẽ trả lãi định kỳ và trả gốc vào cuối kỳ”.
Martellini và cộng sự (2003) định nghĩa: “Trái phiếu là một nghĩa vụ tài chính của người phát hành (hay người vay) cam kết trả lại cho trái chủ (hay người cho vay) khoản tiền gốc và lãi định kỳ, được tính trên khoản gốc vay trong một khoảng thời gian nhất định.Trái phiếu thông thường là trái phiếu trả lãi định kỳ và trả gốc vào ngày đáo hạn”. Theo Collin (2003) “Trái phiếu là một hợp đồng của người phát hành cam kết trả lại một khoản tiền đã vay vào một ngày nhất định và trả lãi định kỳ. Trái phiếu có thể coi là một khoản vay dài hạn của Chính phủ hoặc doanh nghiệp, có lãi suất cố định hoặc thả nổi theo giá bán”. Berk và DeMarzo (2014) cũng định nghĩa: “Trái phiếu là một chứng khoán được bán để huy động tiền từ các NĐT và có cam kết thanh toán trong tương lai”.
Luật chứng khoán Quốc hội (2006) của Việt Nam quy định: “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành”. Như vậy, có thể hiểu “TPDN là một chứng khoán do doanh nghiệp phát hành, cam kết hoàn trả gốc đã vay vào một ngày nhất định trong tương lai và trả lãi định kỳ cho người nắm giữ trái phiếu”. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Có nhiều tiêu chí để phân loại TPDN. Sau đây là một số tiêu chí cơ bản thường được sử dụng để phân loại TPDN trên thế giới (SEC (2013), Amadeo (2018)): “ Phân loại theo kỳ hạn (Duration) Trái phiếu ngắn hạn (short term): là trái phiếu có kỳ hạn từ 3 năm trở xuống.
Trái phiếu trung hạn (medium term): là trái phiếu có kỳ hạn từ 4 đến 10 năm. Trái phiếu dài hạn (long term): là trái phiếu có kỳ hạn trên 10 năm. Phân loại theo mức độ rủi ro (Risk) Trái phiếu thường được các tổ chức XHTD xác định mức độ rủi ro bằng cách luan an chấm điểm tín dụng. Căn cứ vào hạng điểm, TPDN được chia thành 2 loại: Loại có mức độ rủi ro thấp (Investment grade): là những TPDN thường được XHTD từ BAA (Moody’s) hay BBB (Standard & Poor’s và Fitch Ratings).
Đây là những trái phiếu được phát hành bởi những doanh nghiệp ít có khả năng bị phá sản. Loại có mức độ rủi ro cao (Non – investment grade): là những TPDN có điểm tín dụng dưới hạng B, thường có lãi suất cao (high – yield). Phân loại theo cách thức trả lãi (Interest payment) Loại có lãi suất cố định (Fixed rate): là TPDN có mức lãi suất được xác định bằng một tỷ lệ phần trăm (%) cố định theo mệnh giá. Loại trái phiếu này thường trả lãi định kỳ (coupon).
Loại có lãi suất thả nổi (Floating rate): là TPDN mà lãi suất trong các kỳ khác nhau và được tính theo một lãi suất tham chiếu. Loại không trả lãi (Zero – coupon): là TPDN thường được phát hành với giá thấp hơn mệnh giá. Khoản tiền có giá trị bằng mệnh giá được trả khi đáo hạn. Loại trái phiếu chuyển đổi (Convertible): là trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền chuyển sang cổ phiếu của công ty đó.
Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của doanh nghiệp phát hành (Secured) Loại có bảo đảm (Secured): là những TPDN được đảm bảo bằng tài sản thế chấp (bất động sản, thiết bị, …) thuộc sở hữu của doanh nghiệp phát hành. Trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản, trái chủ có quyền tịch thu các tài sản thế chấp để đảm bảo quyền lợi của họ. Loại không có đảm bảo (Unsecured): là TPDN không có tài sản làm vật bảo đảm mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của chính người phát hành. Trên đây là một số tiêu chí phân loại TPDN phổ biến.
Ngoài ra, căn cứ theo nhu cầu của NĐT và khả năng của doanh nghiệp, trái phiếu có thể được kèm theo một số những đặc tính đặc biệt khác (như trái phiếu có quyền mua lại, trái phiếu có quyền mua cổ phiếu, …) để tăng tính hấp dẫn của trái phiếu. Các chủ thể tham gia thị trường Các nhà phát hành (các doanh nghiệp), các NĐT cá nhân và tổ chức. Trong đó, các NĐT tổ chức bao gồm các ngân hàng, các CTBH, CTCK, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, … Đây là các chủ thể chính của thị trường, tạo nên cung cầu trên thị trường. luan an Các TGTC: Thị trường trái phiếu là một bộ phận của TTTC luôn gắn với TGTC như các NHTM, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, CTBH, CTCK, các quĩ đầu tư, các quỹ hưu trí, … Các TGTC tham gia thị trường với các chức năng môi giới, tư vấn, bảo lãnh, cấp tín dụng… TGTC sẽ góp phần làm cho cung cầu khớp nhau một cách có hiệu quả.
Các tổ chức XHTD: Thị trường luôn kém theo với rủi ro. Các tổ chức xếp hạng trái phiếu và doanh nghiệp sẽ đánh giá rủi ro, tạo cơ sở hình thành nên các chuẩn mực của thị trường, giảm tính bất đối xứng của thông tin. Các cơ quan quản lý: các cơ quan quản lý thị trường như UBCK, BTC, NHNN,… có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và đảm bảo thị trường phát triển lành mạnh và ổn định. Quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp 1.
Quan niệm về quy mô của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Theo từ điển Oxford: “Quy mô (size) là mức độ lớn hoặc nhỏ của một đối tượng nào đó”. Vì thế, có thể hiểu quy mô của thị trường TPDN là mức độ lớn hoặc nhỏ của thị trường. El-Wassal (2013) cho rằng quy mô của TTCK được thể hiện thông qua mức độ vốn hóa thị trường và số lượng các công ty niêm yết. Thị trường TPDN cũng là một bộ phận của TTCK nên quy mô của thị trường TPDN cũng có thể được xem xét thông qua những chỉ tiêu tương tự.