Chương 1 Nghị định 163/2018/NĐ – CP nhấn mạnh về kỳ hạn của trái phiếu doanh nghiệp như sau: “Trái phiếu doanh nghiệp là chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả gốc, lãi, và các nghĩa vụ khác (nếu có) của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư sở hữu trái phiếu”. Nhìn chung, các khái niệm về TPDN đều cho rằng, TPDN là loại trái phiếu được phát hành bởi các doanh nghiệp (có đủ điều kiện theo qui định của pháp luật) nhằm huy động vốn với mục đích đầu tư phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh. Trái phiếu doanh nghiệp là một nguồn huy động vốn của doanh nghiệp ngoài nguồn vốn huy động từ việc phát hành cổ phiếu, vay nợ ngân hàng hay vay tín dụng. Ngoài ra, TPDN còn là một loại tài sản tài chính trên thị trường tài chính.
Ngoài những đặc điểm của trái phiếu thông thường, TPDN còn có các đặc trưng sau (Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh, 2013): 18 - Chủ thể phát hành: là các doanh nghiệp (công ty) hoặc các định chế tài chính hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp và pháp luật hiện hành. Ở Việt Nam, chỉ có hai loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn mới có thể phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn. - Chủ sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát hành trái phiếu. - Trái phiếu doanh nghiệp có kỳ hạn xác định.
- Lợi tức của trái phiếu doanh nghiệp thường cố định và không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp phát hành. - Lợi tức trái phiếu được coi là một khoản chi phí hợp lý và được trừ vào phần thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp. Phân loại trái phiếu doanh nghiệp Về cơ bản, trái phiếu doanh nghiệp bao gồm những loại sau: Căn cứ theo lãi suất trái phiếu - Trái phiếu có lãi suất cố định: đây cũng là loại trái phiếu truyền thống được sử dụng nhiều nhất và phổ biến nhất. Là loại trái phiếu có lãi suất được công bố rõ ngay khi phát hành và không thay đổi trong suốt kỳ hạn của trái phiếu.
Cả doanh nghiệp (người đi vay) và người sở hữu trái phiếu (người cho vay) đều biết rõ mức lãi suất của khoản nợ trong suốt khoảng thời gian tồn tại (kỳ hạn) của trái phiếu. Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng được quy định rõ, việc trả lãi định kỳ sáu tháng hoặc một năm một lần trong suốt thời gian lưu hành trái phiếu. Vốn gốc trái phiếu được thanh toán khi đáo hạn. - Trái phiếu có lãi suất thay đổi (hay còn gọi là trái phiếu có lãi suất thả nổi) là loại trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh tùy theo sự thay đổi của lãi suất thị trường nhằm mục đích đảm bảo cho quyền lợi của nhà đầu tư cũng như doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế không ổn định.
Việc thay đổi lãi suất do doanh nghiệp phát hành quy định và chu kỳ điều chỉnh lãi suất được ghi rõ trên trái phiếu. Thông 19 thường, chu kỳ điều chỉnh trái phiếu có thể là sáu tháng, một năm, …và lãi suất sẽ được điều chỉnh theo lãi suất thị trường tại thời điểm điều chỉnh. - Trái phiếu có lãi suất bằng 0 (hay còn gọi là trái phiếu chiết khấu, zero – coupon bonds) là loại trái phiếu mà tổ chức phát hành không trả bất cứ khoản lãi nào cho người nắm giữ trái phiếu trong suốt thời hạn của trái phiếu. Thông thường trái phiếu loại này được phát hành với mức giá thấp hơn mệnh giá.
Người mua trái phiếu không nhận lãi định kỳ, khi đáo hạn, họ được hoàn trả một lượng tiền bằng với mệnh giá. Như vậy, tiền lãi là phần chênh lệch giữa mệnh giá với giá mua tại thời điểm phát hành. Căn cứ theo hình thức trái phiếu - Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên người sở hữu, cả trên trái phiếu và trên sổ của tổ chức phát hành. Trái phiếu vô danh có đặc điểm là dễ dàng chuyển nhượng, bất kỳ người nào sở hữu trái phiếu đều có quyền hưởng lãi và được thanh toán trái phiếu khi đáo hạn.
- Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của trái chủ, cả trên trái phiếu và sổ sách của tổ chức phát hành. Việc chuyển nhượng trái phiếu ghi danh phải tuân thủ theo những quy tắc nhất định do tổ chức phát hành đưa ra, trường hợp bị mất trái phiếu ghi danh, trái chủ có thể đề nghị doanh nghiệp phát hành lại. Căn cứ theo mức độ đảm bảo thanh toán của chủ thể phát hành trái phiếu - Trái phiếu có đảm bảo là loại trái phiếu mà chủ thể phát hành trái phiếu dùng một tài sản có giá trị (như bất động sản và các tài sản tài chính khác) làm đảm bảo cho việc phát hành. Trong trường hợp chủ thể phát hành trái phiếu mất khả năng thanh toán tiền lãi hoặc hoàn trả tiền gốc thì những người nắm giữ trái phiếu có quyền tịch thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền chủ thể phát hành trái phiếu còn nợ (thông thường thực hiện thông qua các đơn vị được ủy thác).
Trái phiếu có đảm bảo gồm có các loại: trái phiếu có tài sản cầm cố và trái phiếu đảm bảo bằng chứng khoán ký quỹ. 20 - Trái phiếu không có đảm bảo (trái phiếu tín chấp) là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật đảm bảo, mà chỉ được đảm bảo bằng uy tín (tín chấp) của chủ thể phát hành trái phiếu. Những công ty lớn, có danh tiếng thường dựa vào uy tín của mình để phát hành trái phiếu loại này. Tuy nhiên, trên thực tế, các trái phiếu này vẫn được đảm bảo bởi tài sản chung của doanh nghiệp.
Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành không có khả năng trả nợ và tuyên bố phá sản thì trái chủ của trái phiếu không có đảm bảo sẽ được thanh toán sau trái chủ của trái phiếu có đảm bảo nhưng trước các cổ động của công ty. Căn cứ vào tính chất của trái phiếu - Trái phiếu thông thường: Đây là loại trái phiếu thông dụng nhất, chúng còn được gọi là trái phiếu liên tục (Straight bond), bởi đây là loại trái phiếu được ấn định trước tỷ lệ lợi tức khi phát hành, và không có bất cứ quyền lợi đặc biệt nào dành cho trái chủ hoặc người phát hành (như khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu, kèm theo quyền mua cổ phiếu, khả năng mua lại trước thời điểm đáo hạn.) được đính kèm với chúng cả. - Trái phiếu có thể chuyển đổi: đây là hình thức trái phiếu mà nhiều doanh nghiệp sử dụng vì nó tạo sự hấp dẫn cho nhà đầu tư. Là loại trái phiếu của công ty cổ phần cho phép trái chủ được chuyển đổi từ trái phiếu sang cổ phiếu (thông thường là cổ phiếu phổ thông do công ty phát hành).
Tỷ lệ chuyển đổi và thời hạn chuyển đổi được ấn định ngay khi phát hành trái phiếu và chỉ thay đổi khi công ty phát hành có sự tách hay gộp cổ phiếu. Tỷ lệ chuyển đổi thể hiện số lượng cổ phiếu nhận được khi chuyển đổi một trái phiếu được công ty ấn định khi phát hành trái phiếu. Thời hạn chuyển đổi cũng được quy định rất đa dạng tùy thuộc vào tính toán và quyết định của từng công ty. - Trái phiếu kèm chứng quyền (trái phiếu có quyền mua cổ phiếu): cũng tương tự như trái phiếu có thể chuyển đổi, khi phát hành, trái phiếu kèm chứng quyền cho phép trái chủ được hưởng quyền mua một số lượng cổ phiếu nhất định (ứng với số lượng trái phiếu mà nhà đầu tư nắm giữ) của doanh nghiệp phát hành với giá xác định và tại những thời điểm nhất định.
21 - Trái phiếu có thể mua lại trước hạn: là loại trái phiếu mà doanh nghiệp phát hành kèm với điều khoản cho phép được quyền mua lại toàn bộ hay một phần trái phiếu trước thời điểm đáo hạn. Thông thường, giá mua lại thường được doanh nghiệp phát hành trả cao hơn mệnh giá, tuy nhiên, doanh nghiệp được chủ động thanh toán nợ vay từ trái phiếu khi có đủ khả năng hoặc muốn cơ cấu lại nguồn vốn cho phù hợp với kế hoạch kinh doanh của mình. Ngoài ra, trong trường hợp lãi suất thị trường xuống thấp hơn so với lúc phát hành sẽ khiến giá trái phiếu tăng, doanh nghiệp có thể mua lại với mức giá thấp hơn như đã định trước và phát hành trái phiếu đợt mới với lãi suất thấp. Đây là điểm bất lợi của nhà đầu tư khi mua loại trái phiếu này.
Căn cứ vào hình thức phát hành: Trái phiếu doanh nghiệp có thể phát hành dưới hai hình thức sau: - Đối với dạng chứng chỉ: Bộ Tài chính quy định nội dung để tổ chức phát hành in và phân phối cho nhà đầu tư. - Đối với hình thức bút toán, ghi sổ: do Trung tâm Giao dịch chứng khoán (Sở giao dịch chứng khoán) và các tổ chức lưu ký ghi và quản lý sổ sách. Giá trị và tỷ suất sinh lợi trái phiếu Không giống như các tài sản tài chính là cổ phiếu hay các công cụ đầu tư khác, thông thường, trái phiếu được yết giá bằng lãi suất (yield) hơn là đưa ra mức giá cụ thể. Đối với trái phiếu, giá cả luôn biến động liên tục xung quanh mệnh giá mà ít khi nào trùng với mệnh giá, lí do là trái phiếu phụ thuộc vào lãi suất thị trường, sự thay đổi rủi ro tín dụng của tổ chức phát hành và tính thanh khoản của trái phiếu.
Do đó, các nhà đầu tư cần các công cụ phân tích khả năng sinh lời của trái phiếu tại các thời điểm khác nhau. Một số thuật ngữ về lãi suất (lợi suất) của trái phiếu giúp các nhà đầu tư hiểu rõ và phân tích mức sinh lời của trái phiếu như sau: - Lãi suất danh nghĩa (nominal yield) là lãi suất được in trên bề mặt của trái phiếu hoặc chủ thể phát hành công bố ngay khi phát hành để tính lãi cho trái chủ trên cơ sở mệnh giá của trái phiếu. Lãi suất danh nghĩa của trái phiếu là tỷ lệ phần trăm (%) 22 lãi hàng năm tính trên mệnh giá trái phiếu mà chủ thể phát hành phải thanh toán cho trái chủ vào các kỳ trả lãi theo các điều kiện, điều khoản của trái phiếu hoặc đến khi đáo hạn. Lãi suất danh nghĩa có tính ổn định cao nhưng không có nhiều ý nghĩa đối với việc phân tích trái phiếu.
Tiền lãi mà trái chủ nhận được tính theo công thức (2.