chương 1 phát triển những nguyên lý cơ bản xây dựng BCTC, chương 2 miêu tả các dạng tổ chức kinh tế và giới thiệu về BCTC. Chương 3, 4, 5 tiến hành nhận xét chuyên sâu về các báo cáo của doanh nghiệp. Các chương tiếp theo từ chương 6 - 11 giới thiệu về phương pháp phân tích và tiến hành phân tích các chỉ tiêu tài chính trong các doanh nghiệp, dự báo kết kết quả kinh doanh, quy trình và tác dụng của phân tích trong quản lý. Đặc biệt, tại chương 12 đã đề cập đến những vấn đề gặp phải khi phân tích 6 ngành đặc thù là: ngân hàng, điện, dầu khí, giao thông vận tải, bảo hiểm, bất động sản, chỉ ra những điểm khác biệt trong báo cáo ngành.
Chương 13 đã trình bày về BCTC cá nhân, BCTC nhà nước và các tổ chức phi lợi nhuận. Nội dung của công trình nghiên cứu đã đề cập đến các ngành đặc thù nhưng chưa có ngành thép.Wild (2013) trong sách “Financial statement analysis”, 11th Edition [58] gồm 3 nội dung chính đã trình bày khái quát phương pháp phân tích BCTC và phân tích tình hình tài chính. Nghiên cứu đã trình bày về tầm quan trọng và những hạn chế của việc thu thập số liệu cho phân tích, các dấu hiệu cần chú ý trong khi phân tích và những điều chỉnh nên áp dụng với BCTC nhằm tăng chất lượng số liệu. Tài liệu cũng nhấn mạnh mục tiêu của những người dùng khác nhau và trình bày các công cụ, phương pháp phân tích nhằm đạt được các mục tiêu đó.
Như vậy, có thể nói điểm chung của các công trình này là đã tập trung trình bày các nội dung về phân tích tài chính nói chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp mà chưa có công trình nào đề cập đến nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ngành thép. Thứ hai, các công trình nghiên cứu trong nước. Các luận án tiến sĩ hay các đề tài khoa học liên quan đến phân tích tài chính mà tác giả được biết bao gồm: Tác giả Nguyễn Trọng Cơ (1999) trong luận án “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam” [5] đề cập đến doanh nghiệp cổ phần và phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần. 5 Luận án đã khái quát hóa lý luận chung về phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam, thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính và hệ thống chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp.
Các tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2002) [29], Trần Thị Minh Hương (2008) [17], Nguyễn Thị Thanh (2012) [39]. với luận án tiến sĩ của mình cũng đề cập đến việc hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính đối với các công ty trong các lĩnh vực như xây dựng, giao thông, hàng không hoặc các công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Tác giả Nguyễn Thị Quyên trong luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” (2012) [34] đã đi theo hướng hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty cổ phần niêm yết công khai trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhằm cung cấp những thông tin tài chính chính thống, công khai để củng cố lòng tin của nhà đầu tư từ đó góp phần giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển lành mạnh, đúng hướng. Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong các công ty cổ phần thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Quyên (2014) [35] đã đi theo hướng hoàn thiện nội dung phân tích bao gồm hoàn thiện tổ chức phân tích, hoàn thiện phương pháp phân tích và hệ thống chỉ tiêu phân tích các CTCP thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam.
Tác giả Đào Ngọc Nam trong luận án tiến sĩ “Phân tích tình hình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam hiện nay” (2017) [23] đã phân tích và đưa ra quan điểm về khái niệm, mục tiêu, phương pháp, quy trình phân tích tình hình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập; nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan và khách quan tác động tới phân tích tình hình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính trong bối cảnh tự chủ về tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập. Luận án cũng đã mô tả rõ thực trạng phân tích tình hình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính của các cơ sở giáo dục đại học công lập của Việt Nam trong bối cảnh tự chủ, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện phân tích tình hình huy động, sử dụng nguồn lực tài chính trong các cơ sở giáo dục đại học công lập ở Việt Nam. Tác giả Nguyễn Trọng Kiên trong luận án tiến sĩ “Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết trên thị trường chứng 6 khoán Việt Nam” (2020) [18] đã hệ thống hoá và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản về hiệu quả SXKD và phân tích hiệu quả SXKD trong các doanh nghiệp, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong việc phân tích hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp bất động sản, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện phân tích hiệu quả SXKD của các doanh nghiệp bất động sản niêm yết theo các khía cạnh là hoàn thiện quy trình phân tích; hoàn thiện phương pháp phân tích đặc biệt trong đó là phương dự báo bằng phân tích hồi quy; hoàn thiện cơ sở dữ liệu phân tích và hoàn thiện nội dung phân tích. Những nghiên cứu này đã hệ thống hóa chỉ tiêu phân tích, phương pháp phân tích, tổ chức công tác phân tích của các doanh nghiệp nói chung, cũng như các doanh nghiệp trong một số lĩnh vực cụ thể.
Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích cho các doanh nghiệp theo nội dung kinh tế của chỉ tiêu, mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp này. (iii) Nhóm các công trình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng tình hình tài chính doanh nghiệp Các quyết định tài chính doanh nghiệp thường liên quan tới xem xét hai khía cạnh sinh lời và rủi ro. Do vậy, luận án nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng tình hình tài chính doanh nghiệp thông qua các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng lời và các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Các nhân tố ảnh hưởng khả năng sinh lời thường được phân loại theo các nhóm nội dung và ý nghĩa kinh tế khác nhau. Trong đó, các nghiên cứu trước đây tập trung vào hai nhóm chủ yếu, bao gồm nhóm đặc điểm tài chính của doanh nghiệp và nhóm quản trị doanh nghiệp. - Đối với nhóm nhân tố đặc điểm tài chính của doanh nghiệp, nhóm tác giả Ronald W. Masulis, Peter Kien Pham, Jason Zein (2011) [65] đã sử dụng mẫu gồm 28.635 doanh nghiệp từ 45 quốc gia để nghiên cứu ảnh hưởng của các mô hình tập đoàn đến mức sinh lời của doanh nghiệp.
Trong các biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng sinh lời, nghiên cứu đưa ra hệ thống biến để kiểm soát ảnh hưởng về mặt đặc điểm tài chính đến mức sinh lời. Các biến này bao gồm quy mô doanh nghiệp, hệ số nợ, tăng trưởng về tài sản, chi phí mua mới nâng cấp tài sản cố định, tỷ lệ tài sản vô hình trên tổng tài sản, thời gian hoạt động của doanh nghiệp, hệ số cổ tức/giá cổ phiếu, hệ số beta. 7 Tương tự, Maury (2006) [60] sử dụng mẫu gồm 1.672 doanh nghiệp phi tài chính đến từ 13 nước Tây Âu để so sánh hiệu quả của doanh nghiệp theo mô hình công ty gia đình với các mô hình công ty khác. Nghiên cứu đã sử dụng các biến để xem xét từng doanh nghiệp với các đặc điểm tài chính khác nhau ảnh hưởng đến khả năng sinh lời.
Các biến độc lập bao gồm quy mô doanh nghiệp, hệ số đầu tư tài sản cố định/doanh thu, tăng trưởng doanh thu, hệ số nợ… Luận án tiến sĩ “Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Đoàn Thục Quyên (2015) [33] nghiên cứu mối quan hệ giữa biến phụ thuộc ROE và các biến độc lập bao gồm Hệ số nợ, Vòng quay vốn lưu động, Hiệu suất sử dụng vốn cố định, Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và Tỷ suất lợi nhuận trên vốn. Sau khi ước lượng mô hình, các yếu tố trong mô hình đều có tác động cùng chiều với sự biến động của ROE, tức là khi hệ số nợ, vòng quay vốn lưu động, hiệu suất sử dụng vốn cố định, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu và tỷ suất lợi nhuận trên vốn càng cao thì ROE càng cao và ngược lại. Tuy nhiên, mức độ tác động của các yếu tố này là khác nhau. Trong đó, hệ số nợ có tác động lớn nhất đến ROE.
Tiếp đến là khả năng sinh lời trên doanh thu và vốn, vòng quay vốn lưu động cũng có tác động lớn đến ROE, chỉ có hiệu suất sử dụng vốn cố định là tác động ít nhất đến ROE trong số các yếu tố được đưa vào mô hình nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Đình Hoàn trong luận án tiến sĩ “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam” (2017) [16] nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới ROE bao gồm Hệ số nợ, Khả năng sinh lời, Vòng quay tổng tài sản, Cơ cấu tài sản, Quy mô tài sản, Tăng trưởng tài sản, Khả năng thanh toán. Sau khi ước lượng mô hình, các nhân tố có mối quan hệ cùng chiều với ROE bao gồm Hệ số nợ, Khả năng sinh lời, Vòng quay tổng tài sản, Cơ cấu tài sản, Quy mô tài sản, Khả năng thanh toán. Trong khi đó, nhân tố Tăng trưởng tài sản có mối quan hệ ngược chiều với ROE.