Chương 1. Tự do hoá tài chính - Xu hướng tất yếu trong quá trình toàn cầu hóa. Tiến trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam thời gian qua. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy tự do hoá tài chính ở Việt Nam.
TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH - XU HƢỚNG TẤT YẾU TRONG QUÁ TRÌNH TOÀN CẦU HÓA 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH Ở CÁC NƢỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 1. Nội dung của tự do hóa tài chính Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn đều cho thấy, sự phát triển kinh tế của một quốc gia phụ thuộc rất nhiều vào chính sách cũng như cơ cấu hệ thống tài chính của nước đó. Nhiều sự biến động thăng, trầm và thậm chí là khủng hoảng tại một số quốc gia, đặc biệt là ở khu vực Đông Á - một thời có tốc độ phát triển cao và được coi là bền vững - đã đặt ra yêu cầu phải xem xét lại hệ thống tài chính của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, tự do hóa tài chính vẫn được thừa nhận như một hướng đi thích hợp trong bối cảnh hiện nay và được nhiều quốc gia tiếp tục thực hiện, trong đó có Việt Nam. Xu thế tự do do hóa tài chính đã và đang trở thành xu thế lớn của kinh tế học hiện đại và được thể hiện trên thực tiễn qua nhiều khía cạnh, theo một đánh giá của Tổng giám đốc Hiệp hội ngân hàng Pháp thì "từ gần 30 năm nay, một số lượng lớn các nước đang dấn thân vào con đường tự do hóa hệ thống tài chính của quốc gia; nhưng với những biến động trong thời gian gần đây, câu hỏi được đặt ra là nên tự do hóa như thế nào còn chưa có câu trả lời cụ thể và do đó, rất cần có những tổng kết, kinh nghiệm để đúc kết thành những bài học có tính chất nguyên tắc chung". Đối với trường hợp Việt Nam, có thể nói rằng trước các tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa kinh tế của thế giới, chúng ta không thể đứng ngoài và bỏ qua các áp lực tự do hóa hệ thống tài chính của đất n- ước. Muốn vậy, trước hết đòi hỏi chúng ta phải nắm được một số nội dung cơ bản của tự do hóa tài chính.
* Khái niệm về tự do hóa tài chính 8 z Tự do hóa tài chính là một phạm trù tương đối rộng, song để đơn giản có thể hình dung tự do hóa tài chính như là một quá trình xoá bỏ đi các hạn chế, định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ nguồn lực tín dụng. Mọi điều tiết trong quá trình phân bổ này được đặt trên nền tảng cơ chế giá; nghĩa là các tổ chức tài chính được quyền tự do xác định lãi suất tiền gửi và cho vay. Điều này cũng bao hàm việc xoá bỏ các mức trần lãi suất cũng như các ràng buộc khác trong việc sử dụng nguồn vốn huy động được (ví dụ như các khoản tín dụng ưu đãi). Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh tranh của các tổ chức trung gian tài chính, điều này cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt sự phân biệt đối xử về pháp lý giữa những loại hình hoạt động khác nhau.
Như vậy, có thể nói tự do hóa tài chính là quá trình làm giảm thiểu sự can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ và giao dịch tài chính, làm cho hệ thống tài chính được tự do thực hiện theo các tín hiệu thị trường. Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm trái ngược nhau trong việc tán đồng hay phản đối tự do hóa tài chính. Những quan điểm này chủ yếu xuất phát từ việc xem xét những đóng góp mà một thị trường tài chính có thể mang lại cho nền kinh tế, từ đó đi tới kết luận là có nên hay không nên tiến hành tự do hóa tài chính. Có 2 nhóm quan điểm chính là: - Nhóm quan điểm phản đối (hay còn gọi là nhóm Keynes): nhóm này cho rằng thị trường tài chính có tác động rất nhỏ bé, thậm chí là không đáng kể tới tăng trưởng kinh tế, và vì vậy không cần thiết phải phát triển thị trường tài chính, tức là không cần phải tự do hóa tài chính.
Những người theo quan điểm này, đi đầu là Keynes, cho rằng tăng trưởng kinh tế cao luôn đi kèm với lạm phát vì khi xét trong một thời điểm cụ thể, đầu tư không nhất thiết phải bằng tiết kiệm. Do vậy, chính phủ có thể chủ động tác động đến tỷ lệ tăng trưởng bằng cách theo đuổi một chính sách tài chính gây lạm phát (inflationary finance) bắt buộc người dân phải tiết kiệm, gọi là tiết kiệm bắt 9 z buộc (forced savings) để bù đắp vào sự thiếu hụt giữa đầu tư và tiết kiệm. Do đó, hệ thống tài chính đóng vai trò thụ động trong cuộc huy động tiết kiệm và phân bổ nguồn lực. Bằng việc phân chia các cá nhân trong nền kinh tế thành hai loại (loại thứ nhất có thu nhập dựa trên tiền lương và loại thứ hai có thu nhập dựa trên lợi nhuận), lý thuyết Keynes cho rằng một chính sách lạm phát cao và lãi suất thực giảm sẽ hấp dẫn hơn đối với các cá nhân thuộc loại hai và do đó họ có động cơ tiết kiệm để đầu tư và giảm tiêu dùng.
Loại thứ nhất sẽ chịu sự giảm xuống về thu nhập thực, điều này khuyến khích họ tiêu dùng hơn là tiết kiệm. Như vậy xu hướng tiết kiệm trên lợi nhuận tăng và xu hướng tiết kiệm trên tiền lương giảm. Hệ thống tài chính có nhiệm vụ nhận ký thác các khoản tiết kiệm từ loại cá nhân thứ hai cho đến khi họ đủ nguồn lực để đầu tư mới. Như vậy, hệ thống tài chính có vai trò rất thụ động và nó chỉ phát triển sau nếu như nền kinh tế phát triển bền vững.
“Nói chung hệ thống tài chính nên phát triển sau hơn là đi trước việc phát triển kinh tế. Sự độc lập về chính trị và thiết lập ngân hàng trung ương không có tính cách là nền tảng cho sự phát triển. Xu hướng chính của sự phát triển được xác định trên sự thịnh vượng của thị trường xuất khẩu, trên dòng vốn nước ngoài, trên những chính sách về ngân sách và trên những sự kiện chính trị. Hệ thống tài chính đóng vai trò trong việc cổ vũ cho các ảnh hưởng đó” [Kitchen, 1986].
- Nhóm quan điểm ủng hộ: Đối lập với lý thuyết của trường phái Keynes về vai trò thụ động của hệ thống tài chính trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết cổ vũ cho tự do hóa tài chính khẳng định rằng phát triển thị trường tài chính là rất cần thiết để phát triển kinh tế, và do vậy đòi hỏi phải tiến hành tự do hóa tài chính. Họ cho rằng, thị trường tài chính là kênh phân bổ tốt nhất các nguồn lực tài chính bởi cơ chế chia sẻ rủi ro và chuyển giao có thời hạn (maturity transformation); trong điều kiện vốn đầu tư là tương đối khan hiếm, nhất là tại các nước nghèo có thu nhập thấp thì một 10 z hệ thống tài chính được tự do hóa sẽ phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả nhất. Năm 1973 trong tác phẩm "Tiền tệ và vốn trong phát triển kinh tế”, McKinnon, dựa trên quan điểm của Shaw, đã đưa ra lý thuyết về kìm hãm và tự do hóa tài chính. Trọng tâm của lý thuyết này là chính phủ không nên can thiệp vào hệ thống tài chính mà để chúng vận động trên cơ sở thị trường tự do.
Như vậy nguyên tắc hiệu quả sẽ được tôn trọng và nguồn lực tài chính sẽ được phân bổ một cách tốt nhất. McKinnon chỉ ra rằng tại hầu hết các nước đang phát triển, chính phủ thường thích can thiệp vào hệ thống tài chính nước đó nhằm giữ một mức lãi suất thực thấp hơn mức cạnh tranh, làm cho hệ thống tài chính bị kìm hãm và không phát triển được. Khi lãi suất bị kìm hãm ở dưới mức cân bằng thì sẽ không có sự phân bổ hiệu quả nguồn lực, vì một số dự án sinh lợi nhiều hơn có thể không nhận được vốn đầu tư làm hiệu quả trung bình của đầu tư giảm sút. Như vậy, nền kinh tế sẽ đạt mức tăng trưởng chậm hơn các kết quả đạt được khi gỡ bỏ một phần việc kiểm soát lãi suất.
Lý giải cho việc giữ lãi suất thấp ở dưới mức cân bằng, chính phủ các nước này thường cho rằng điều này sẽ cải thiện được đầu tư vì các dự án sẽ dễ sinh lợi hơn. Nhưng các phân tích của lý thuyết của McKinnon chứng minh rằng khi hệ thống tài chính bị kìm hãm (financial repression) đầu tư sẽ giảm và sự can thiệp của chính phủ thường không mang lại hiệu quả kinh tế. Trên cơ sở đó, McKinnon khuyến nghị các chính phủ ở các nước đang phát triển không nên can thiệp vào hệ thống tài chính của nước họ và nên để cho chúng hoạt động theo quy luật thị trường hay nói cách khác là nên để cho hệ thống tài chính tự do (financial liberalization). * Nội dung của tự do hóa tài chính Kết hợp quan điểm phải xây dựng một hệ thống tài chính hoạt động theo quy luật thị trường của Shaw-McKinnon với quan điểm tân cổ điển về vai trò của chính phủ trong tác động tới hệ thống tài chính, có thể chỉ ra nội dung của tự do hóa tài chính bao gồm các mặt sau: 11 z - Xóa bỏ kiểm soát lãi suất và các loại phí dịch vụ tài chính: Chừng nào mà chính phủ còn quy định trần lãi suất (tiền gửi hoặc cho vay) thì lãi suất thực còn bị méo mó và không phản ánh được tính khan hiếm của đồng vốn.
Do đó kéo theo các hệ quả là: + Lãi suất thấp không kích thích tiêu dùng trong tương lai mà kích thích tiêu dùng trong hiện tại, do đó tiết kiệm sẽ giảm dưới mức có thể. + Những người cho vay tiềm năng sẽ tỏ ra thích đầu tư vào các dự án sinh lợi thấp của mình hơn là ký thác tiền vào ngân hàng. + Những người đi vay ngân hàng có thể nhận được các khoản vay với lãi suất thấp hơn có thể sẽ chọn dự án đầu tư sinh lợi thấp hơn. + Việc quy định trần lãi suất cho vay còn dẫn đến việc tín dụng không được phân phối dựa trên suất sinh lợi mong đợi của các dự án đầu tư cạnh tranh mà dựa trên chi phí giao dịch và mức độ an toàn của các dự án đó.
Khi đó, phân bổ tín dụng trở nên không hiệu quả, méo mó.