CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ 1. Thị trường mua bán nợ 1. Khái niệm nợ và phân loại nợ 1. Khái niệm nợ Theo Nguyễn Thu Hương (2016), nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc tổ chức khác (chủ nợ).
Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm. Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức tín dụng khác. Như vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay. Theo đó, cấp tín dụng được định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Còn cho vay được định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các TCTD. Vì vậy, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng khái quát ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay. Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cấp tín dụng còn gọi là chủ nợ, bên được cấp tín dụng gọi là khách nợ.
Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cấp tín dụng, lãi suất phải trả. Trước khi có nợ thì cả hai bên (bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng) phải cùng nhau thống nhất phương thức trả nợ (thanh toán). Thông thường, người ta thanh toán bằng tổng số tiền tính theo một đơn vị tiền tệ nào đó, tuy nhiên cũng có trường hợp thanh toán bằng hàng hoá.
Thanh toán có thể được thực hiện theo phương thức trả lãi trong một khoảng thời gian hoặc trả một lúc khi kết thúc hợp đồng tín dụng. Nợ về cơ bản đã là một hàng hóa được mua bán giữa bên 1 cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng, sau khi hợp đồng tín dụng đó có hiệu lực, thì nợ - lúc này được hiểu là quyền của chủ nợ cũng có thể trở thành một loại hàng hóa. Trong khuôn khổ Khóa luận này, hàng hóa nợ được hiểu là quyền của chủ nợ, quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ. Chi tiết của “quyền chủ nợ” được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liên quan - được xem như là “mô tả về quy cách chất lượng hàng hóa” khi nợ trở thành hàng hóa trên thị trường thứ cấp - thị trường của những người mua đi bán lại các khoản nợ.
Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rời với một hoặc nhiều tài sản - thường được xem là đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình). Phân loại nợ Theo Nguyễn Thu Hương (2016, phân loại nợ được hiểu là quá trình các TCTD xem xét các danh mục nợ và đưa khoản nợ vào các nhóm khác nhau dựa trên rủi ro và điểm tương đồng của khoản nợ. Việc thường xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các TCTD có thể kiểm soát chất lượng danh mục nợ và trong trường hợp cần thiết, sẽ có các biện pháp xử lý các vấn đề phát sinh trong chất lượng tín dụng. Thông thường, các TCTD sử dụng hệ thống phân loại nội bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các cơ quan giám sát chủ yếu để phục vụ mục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát.
- Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), thì khoản vay nợ được chia làm 5 nhóm: Bảng 1.1 Đặc thù và thời hạn các khoản vay Khoản vay Đặc thù và thời hạn Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ 1. Đạt tiêu chuẩn Tài sản được đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương Quá hạn dưới 90 ngày Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng 2. Cần theo dõi trả nợ Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn 2 Quá hạn dưới 90 ngày Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ 3. Dưới tiêu chuẩn Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại Quá hạn từ 90 đến 180 ngày Không chắc chắn thu hồi được toàn bộ nợ dựa trên các điều kiện hiện tại 4.
Đáng ngờ Có khả năng thất thoát Quá hạn từ 180 đến 360 ngày Các khoản vay không thu hồi được 5. Nợ không thu hồi được Luôn có khả năng thu hồi lại một phần Quá hạn hơn 360 ngày Bản chất của cách phân chia này là dựa vào hai yếu tố định tính và định lượng. Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước đã tiến hành phân loại nợ của các NHTM theo 5 nhóm như: Ý, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam. Tuy nhiên cũng có một số nước phân loại nợ thành 04 nhóm như Nga, Ấn Độ, Đức hoặc Tây Ban Nha 6 nhóm, Mexico 7 nhóm, Brazil 9 nhóm.
Thị trường mua bán nợ và phân loại thị trường mua bán nợ 1. Khái niệm thị trường mua bán nợ Theo Hoàng Trần Hậu (2015), thị trường mua bán nợ là một bộ phận của thị trường tài chính, bên cạnh thị trường vốn cổ phần. Mua bán nợ là một loại hình dịch vụ thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính để mua bán một loại sản phẩm đặc biệt - nợ xấu, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ. Việc mua bán nợ được tiến hành với sự tham gia của các đối tượng sau: Trung gian mua bán, chủ nợ, khách nợ (công ty mua bán nợ và tài sản, doanh nghiệp, ngân hàng…) nhằm xử lý các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng, làm cho nguồn vốn xoay vòng nhanh chóng và lành mạnh hóa tình hình tài chính.
Nói một cách khác, mua bán nợ là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển giao phần tài sản đặc biệt là các "khoản nợ phải thu" đã quá hạn từ đối tượng này sang đối 3 tượng khác. Đối với TCTD, “khoản nợ phải thu” này được phân loại là nợ xấu. Thực chất, đó là việc chuyển nhượng lại "quyền thu hồi nợ từ một "khoản nợ phải thu" của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Khách nợ sang cho bên Mua nợ để bên Mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên Khách nợ. Như vậy, hoạt động mua bán nợ được thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bên chủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên khách nợ).
Như vậy, thị trường mua bán nợ là nơi mua bán các khoản nợ hàng hóa của thị trường nợ là các chứng khoán nợ như trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), trái phiếu Chính phủ (TPCP), trái phiếu đô thị, giấy chứng nhận tiền gửi và các khoản vay có giá trị khác… Trong thị trường mua bán nợ, bên thứ ba hay bên mua không có trong hợp đồng vay nợ, còn bên bán là bên đã cho vay nợ mà chưa đến hạn đòi nợ hoặc chưa đòi được nợ khi đã đến hạn hoặc quá hạn. Phân loại thị trường mua bán nợ Theo quá trình luân chuyển vốn, thị trường mua bán nợ có thể phân loại như sau: - Thị trường mua bán nợ sơ cấp là nơi đầu tiên khi khoản nợ được giao dịch. - Thị trường mua bán nợ thứ cấp là nơi các khoản nợ được giao dịch những lần tiếp theo. Thị trường mua bán nợ sơ cấp và thị trường mua bán nợ thứ cấp có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Thị trường mua bán nợ sơ cấp là nơi hình thành hàng hóa mua bán và lưu thông trên thị trường mua bán nợ tứ cấp. Nếu thị trường mua bán nợ thứ cấp không hình thành, khoản nợ được hình thành trên thị trường sơ cấp thiếu tính thanh khoản, kém hấp dẫn với các nhà đầu tư, do đó, làm giảm hiệu quả và hạn chế sự phát triển của thị trường sơ cấp. Có thể nói, thị trường mua bán nợ thứ cấp đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ sơ cấp. Theo phương hướng phát triển, thị trường mua bán nợ có thể phân loại như sau: - Thị trường mua bán nợ theo chiều rộng là thị trường được xem xét ở phạm vi và quy mộ hoạt động, thể hiện thông qua số lượng chủ thể tham gia thị trường, khối lượng nợ được giao dịch.
4 - Thị trường mua bán nơj theo chiều sâu là thị trường được xem xét ở chất lượng mua bán nợ, hiệu quả hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ. Thị trường mua bán nợ có thể phát triển theo rộng hoặc theo chiều sâu hoặc kết hợp cả hai hướng. Phương hướng phát triển thị trường mua bán nợ theo chiều rộng thường được sử dụng để đánh giá sơ bộ về quy mộ thị trường thông qua số lượng chủ thể tham gia thị trường, khối lượng và giá trị các khoản nợ được giao dịch trong một giai đoạn. Tuy nhiên, để đánh giá toàn diện về mức độ phát triển của thị trường mua bán nợ, cần xem xét theo chiều sâu để thấy mức độ hoạt động hiệu quả của thị trường thể hiện qua mức hiệu quả của việc mua bán nợ, các khoản nợ sau đó có được xử lý triệt để, tăng tốc độ xử lý khoản nợ và quá trình luân chuyển vốn được cải thiện và hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý nợ và khai thác tài sản được nâng cao.