Chương 1: Giới thiệu luận văn thạc sĩ kinh tế. Chương 2: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ thẻ tín dụng của khách hàng. 123doc 5 Chương 3: Thực trạng khả năng trả nợ thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội. Chương 4: Vận dụng mô hình logit kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ thẻ tín dụng của khác hàng cá nhân tại MB.
Chương 5: Kết luận và giải pháp đối với các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ thẻ tín dụng của KHCN tại ngân hàng TMCP Quân Đội. TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội” được nghiên cứu trong khoảng thời gian từ ngày 01/01/2015 đến hết 31/12/2016, sử dụng dữ liệu bao gồm 12.734 chủ thẻ MB Visa có phát sinh giao dịch trong thời gian nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu nhằm giúp MB tìm ra những yếu tố tác động thực sự đến khả năng trả nợ thẻ tín dụng của khách hàng. Từ đó góp phần đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp giúp MB ban hành một bộ quy trình chặt chẽ hơn, chú trọng hơn trong công tác kiểm tra và thẩm định hồ sơ, phê duyệt và cấp hạn mức thẻ tín dụng cho khách hàng, đặc biệt là chú trọng tới các yếu tố có nhiều tác động tới khả năng trả nợ thẻ tín dụng của chủ thẻ hơn.
Điều này góp phần giúp MB có điều kiện tập trung nguồn lực vào việc phát triển hoạt động kinh doanh, quản trị rủi ro nhiều hơn so với việc tập trung nguồn lực để giải quyết vấn đề nợ xấu về sau. 123doc 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ THẺ TÍN DỤNG CỦA KHÁCH HÀNG 2.1 Tổng quan về thẻ tín dụng 2.1 Nguồn gốc và khái niệm về thẻ tín dụng 2.1 Nguồn gốc về thẻ tín dụng1 Trở lại thế kỷ 18, ở Châu Âu, vào năm 1730, một thương gia đồ gỗ tên là Christopher Thompson cung cấp sản phẩm của mình cho khách hàng và yêu cầu họ trả tiền vào cuối mỗi tuần (Jusoh và Lin, 2012). Ý tưởng này cho phép khách hàng muốn mua sản phẩm nhưng lại không có đủ tiền để trả ngay lập tức, một cơ hội mua sản phẩm bằng cách trả góp (Jusoh và Lin, 2012). Trong những năm 1920, người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng bắt đầu sử dụng thẻ tín dụng khi một số ít doanh nghiệp bắt đầu phát hành cho khách hàng của họ.
Hệ thống thẻ tín dụng thực sự được biết rộng rãi ở Hoa Kỳ vào năm 1949 bởi ba người bạn là Alfred Bloomingdale, Frank McNamara, và Ralph Snyder, khi 3 người này gặp nhau tại Major's Cabin Grill, một nhà hàng nổi tiếng của New York, gần tòa nhà Empire State để thảo luận về sự bất lực của McNamara khi thu nợ từ chủ nợ của mình (Mandell, 1990). Ba người bạn quyết định tại cuộc thảo luận hôm đó là bắt đầu kinh doanh thẻ tín dụng và đặt tên nó là Diners Club (Mandell, 1990). McNamara và hai người bạn của ông đã đàm phán với các nhà hàng và các nhà bán lẻ chấp nhận thực khách sử dụng Thẻ tín dụng Diners Club như một phương tiện thanh toán và được tính một khoản phí là 7% cho mỗi giao dịch, trong khi chủ thẻ chịu phí thường niên là 3$ (Mandell, 1990; Parrish, 2009). Năm 1950, lần đầu tiên thẻ tín dụng Diners Club chính thức được 200 người và 14 nhà hàng tại Thành phố New York 1 Emmanuel Andoh, 2014.
Credit card system in ghana: an investigation of why credit cards are not widely used in ghana and how widespread use maybe implemented, 2014 123doc 7 chấp nhận như một hình thức thanh toán. Đến cuối năm 1950, thẻ tín dụng Diners Club đã có hơn 20.000 người dùng (Mandell, 1990; Parrish, 2009). Năm 1958 cuộc cạnh tranh thẻ tín dụng bắt đầu khi Ngân hàng Americard, mà sau này trở thành Visa và American Express bước vào thị trường thẻ tín dụng (Parrish, 2009). American Express bắt đầu đưa ra thẻ tín dụng của mình và nâng cấp từ một loại thẻ có bìa cạc tông thành thẻ tín dụng lần đầu tiên được làm bằng nhựa plastic vào năm 1959.
Năm 1966, MasterCard, ban đầu được gọi là Hiệp hội thẻ liên ngân hàng đã được hình thành khi các ngân hàng tín dụng phát hành liên kết với nhau, bắt đầu một hệ thống phát hành thẻ tín dụng quốc gia (Hardekopf, 2010 p50). American Express và MasterCard đã bắt đầu chiếm lĩnh thị trường trong những năm 1960 khi nhiều công ty bắt đầu quảng cáo thẻ tín dụng như một phương tiện tiết kiệm thời gian thanh toán hơn là một hình thức tín dụng. Năm 1983, Thống đốc Nam Dakota, Bill Janklow, đã ký một đạo luật tiểu bang cho phép các công ty thẻ tín dụng có thể đổi hợp đồng thẻ tín dụng bất cứ lúc nào và vì bất kỳ lý do gì. Điều này giải thích tại sao phần lớn các công ty phát hành thẻ tín dụng mở rộng phát hành ra khỏi Nam Dakota (Parrish, 2009).
Năm 2008 Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã thông qua “dự luật về thẻ tín dụng” - một bộ luật mới dành riêng cho thẻ tín dụng, đặc biệt được thiết kế nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của chủ thẻ từ nhiều tổ chức phát hành (Parrish, 2009).2 Khái niệm về thẻ tín dụng. Việc sử dụng thẻ tín dụng thay vì tiền mặt tại nhiều điểm bán hàng có sử dụng máy POS đã tăng đáng kể trong những năm gần đây. Những cái ví tiêu dùng bằng thẻ tín dụng ngày càng được ưa chuộng và là dấu hiệu về một nền văn hóa được dự kiến sẽ biến thế giới thành một xã hội không dùng tiền mặt trong tương lai (Worthington, 1995) được trích trong nghiên cứu của Mwangi (2014). Trong nền kinh tế hiện đại, việc thanh toán bằng thẻ gần như là một thực tế của đời sống.
Thẻ tín dụng được coi là một công cụ tín dụng quay vòng, trong đó chủ sở 123doc 8 hữu của nó có thể thanh toán một phần các khoản nợ, khoản nợ còn lại và lãi sẽ được tính vào số dư chưa thanh toán để tính vào dư nợ tháng sau (Peng và Yiing Jia, 2008). Thẻ tín dụng là thẻ thanh toán phát hành cho người sử dụng như một hệ thống thanh toán. Nó cho phép chủ thẻ trả tiền mua hàng hoá và dịch vụ dựa trên lời hứa. Các tổ chức phát hành thẻ sẽ tạo ra một tài khoản quay vòng và cấp một mức hạn mức tín dụng cho chủ thẻ mà từ đó chủ thẻ có thể vay tiền để thanh toán cho người bán hoặc ứng tiền mặt.
Thẻ tín dụng cho ph p người tiêu dùng quay vòng nợ một cách liên tục, tùy thuộc vào lãi suất và số tiền thanh toán mỗi kỳ (Koparal và Calık, 2014). Durkin (2001) thì thẻ tín dụng đã và đang được sử dụng ngày càng nhiều cho việc thanh toán trong các dịch vụ tài chính của người tiêu dùng và là nguồn cung cấp tín dụng quay vòng. Thẻ tín dụng là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ (quy trình nghiệp vụ thẻ quốc tế, 2011). Hay nói cách khác, khi chủ thẻ mua hàng hóa dịch vụ, ngân hàng sẽ tạm ứng cho chủ thẻ một số tiền để thanh toán trước cho người bán hàng, và sau đó chủ thẻ sẽ thanh toán lại cho ngân hàng số tiền đã tạm ứng này.
Hàng tháng, vào ngày sao kê, ngân hàng phát hành thẻ sẽ lên bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu, hoàn trả, trả nợ của chủ thẻ cùng lãi và phí phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định do ngân hàng quy định. Bảng kê chi tiết đó được gọi là bảng sao kê thẻ tín dụng, và ngày sao kê là ngày hệ thống quản lý thẻ thực hiện chốt dữ liệu giao dịch của chủ thẻ trong một chu kỳ sao kê.2 Ngoài ra chủ thẻ không phải thanh toán toàn bộ dư nợ trên bảng sao kê hàng tháng và cũng không phải thanh toán ngay vào ngày sao kê hay ngay khi mua 2 Kỳ sao kê là khoảng thời gian giữa 2 ngày sao kê liên tiếp. Chủ thẻ có thể thanh toán toàn bộ dư nợ hoặc thanh toán trị giá thanh toán tối thiểu3 vào ngày đến hạn thanh toán. Ngày đến hạn hạn thanh toán là ngày ân hạn cuối cùng của TCPHT đối với chủ thẻ tín dụng trong một kỳ sao kê.
Thời gian ân hạn là khoảng thời gian tổ chức phát hành thẻ không tính lãi cho vay với những khoản chi tiêu hàng hóa dịch vụ của chủ thẻ tín dụng trong một kỳ sao kê.2 Chủ thể tham gia trong hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng Chủ thể tham gia trong hoạt động kinh doanh thẻ bao gồm: chủ thẻ chính, chủ thẻ phụ, tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ, tổ chức thẻ quốc tế, đơn vị chấp nhận thẻ.3 Phân loại và vai trò của thẻ tín dụng 2.1 Phân loại thẻ tín dụng Có thể phân loại thẻ tín dụng theo những cách sau: theo phạm vi sử dụng thẻ tín dụng (thẻ tín dụng nội địa và thẻ tín dụng quốc tế); theo đối tượng sử dụng (thẻ tín dụng cá nhân và thẻ tín dụng doanh nghiệp); theo công nghệ sản xuất (thẻ dập nổi, thẻ từ và thẻ chíp).2 Vai trò của thẻ tín dụng Thẻ tín dụng cung cấp cho người tiêu dùng một phương tiện thanh toán an toàn, đáng tin cậy và thuận tiện (Chakravorti, 2003). Nó cung cấp cho người tiêu dùng sự tiện lợi chưa từng có như một đồng tiền giao dịch được chấp nhận trên toàn thế giới. 3 Trị giá thanh toán tối thiểu là khoản tiền tối thiểu tổ chức phát hành thẻ yêu cầu chủ thẻ phải thanh toán trong mỗi kỳ sao kê. Theo quy định của ngân hàng TMCP Quân Đội thì trị giá thanh toán tối thiểu bằng 8% số dư sao kê.
Số dư sao kê là bù trừ giá trị các khoản chi tiêu, lãi và phí phát sinh (ghi nợ) với các khoản hoàn trả, thanh toán sao kê (ghi có) trong kỳ với số dư sao kê kỳ trước chưa thanh toán (dư nợ/có). Nếu các khoản ghi có lớn hơn ghi nợ gọi là số dư có. 123doc 10 Worthington, Thompson và Stewart (2011) tìm thấy những chủ thẻ trẻ tuổi người Trung Quốc cho rằng thẻ tín dụng thì thuận tiện hơn so với tiền mặt, đặc biệt khi mua sắm trực tuyến và đi du lịch. Việc sử dụng thẻ tín dụng có thể tránh được rủi ro tỷ giá hối đoái khi người tiêu dùng đi du lịch ở nước ngoài.