CHƯƠNG 1 Chương này đã giới thiệu sơ lược về xu hướng và tầm quan trọng của sự thỏa mã n về dịch vụ phục hồi trong lĩnh vực viễn thông, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và cấu trúc luận văn và phương pháp thực hiện. Chương tiếp theo sẽ trình bày các nội dung tổng quan về thị trường dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam và MobiFone Trung tâm VI, các lỗi dịch vụ mà khách hàng thường gặp khi sử dụng dịch vụ di động của MobiFone được Trung tâm VI tiếp nhận và xử lý. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN DI ĐỘNG VÀ CÁC LỖI DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG THƯỜNG GẶP Chương này giới thiệu vài nét về thị trường dịch vụ thông tin di động tại Việt Nam, MobiFone Trung tâm VI và các lỗi dịch vụ khách hàng thường gặp khi sử dụng dịch vụ của MobiFone .1 VÀI NÉT VỀ THỊ TRƯỜNG DỊCH VỤ THÔNG TIN DI ĐỘNG VIỆT NAM Tháng 4 năm 1993, Công ty Thông tin Di động Việt Nam (Vietnam Mobile Telecom Services Company - VMS) được thành lập. Đây là doanh nghiệp nhà nước hạng một trực thuộc Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT).
VMS là doanh nghiệp đầu tiên tại Việt Nam khai thác dịch vụ thông tin di động GSM 900 /1800 với thương hiệu MobiFone. Lĩnh vực hoạt động chính của MobiFone là tổ chức thiết kế xây dựng, phát triển mạng lưới và triển khai cung cấp dịch vụ mới về thông tin di động có công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại và kinh doanh dịch vụ thông tin di động công nghệ GSM 900/1800 trên toàn quốc. Năm 1995, Công ty Thông tin Di Động ký hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC) với tập đoàn Kinnevik của Thụy Điển 3. Tháng 12 năm 1997, Công ty Dịch vụ Viễn thông (GPC) với tên thương mại là VinaPhone chính thức được thành lập và hoạt động trong lĩnh vực thông tin di động, cung cấp các dịch vụ GSM, nhắn tin và kinh doanh điện thoại thẻ.
Tháng 7/2003, Trung tâm điện thoại di động CDMA S-Telecom với thương hiệu S - Fone ra đời. Đây là doanh nghiệp liên doanh giữa hai đối tác bao gồm SPT (đại diện phía Việt Nam) và SLD Telecom (là liên doanh giữa SK Telecom, LG Electronics và DongA Elecom). Đây là nhà cung cấp dịch vụ di động công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access - Đa truy cập phân chia theo mã) đầu tiên của Việt Nam.vn/1090/home/category.jsp?folder_id=663 8 Hiện nay, S-Fone có hơn 7,3 triệu thuê bao tích lũy và đã phủ sóng toàn quốc. Tuy nhiên, S-Fone chưa chiếm được thị phần đáng kể so với các nhà cung cấp dịch vụ di động dùng công nghệ GSM như VinaPhone, MobiFone,Viettel4.
Năm 2004, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Việt Nam (Viettel) chính thức cung cấp dịch vụ điện thoại di động trên thị trường Việt Nam. Năm 2005, Công ty Thông tin Di động thanh lý hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC) với tập đoàn Kinnevik sau 10 năm hợp tác và trở thành doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Năm 2008, Viettel lọt vào top 100 thương hi ệu viễn thông lớn nhất thế giới 5. Năm 2009, tại Việt Nam, Viettel nằm trong top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2009.6 Tiếp đến, thị trường di động Việt Nam lại chứng kiến sự ra đời của mạng viễn thông EVN Telecom-một doanh nghiệp trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam.
EVN Telecom được phép cung cấp đầy đủ các dịch vụ viễn thông tại Việt Nam. Với phương châm “Gần gũi với khách hàng”, mục tiêu của EVN Telecom là đạt 20% thị phần viễn thông Việt Nam vào năm 2010 7. Mạng di động thứ 6 tại Việt Nam cũng đã xuất hiện, đó là HT-Mobile. Đây là mạng di động được cấp phép theo hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa Hanoi Telecom và Tập đoàn Hutchison (Hồng Kông ).
HT-Mobile bắt đầu cung cấp dịch vụ vào tháng 11 năm 2006 với logo hình con ong. Công nghệ sử dụng là CDMA 2000-EvDO với tần số hoạt động 800 MHz. Đầu số mà HT -Mobile được sử dụng tại Việt Nam là 092. Tuy nhiên, sau vài năm hoạt động trên thị trường thông tin di động Việt Nam, do gặp một số khó khăn khách quan nên HT-Mobile đã xin phép được chuyển đổi công nghệ từ CDMA sang GSM và đã được c ác cấp có thẩm quyền phê duyệt 8.
Để thực hiện việc chuyển đổi công nghệ, HT-Mobile đã tiến hành gửi tất cả các thuê bao hiện có của 4 Http://vi.org 5 Http://www.com, 25/12/2008 6 Http://www.net, 24/12/2009 7 Http://www.vn 8 Http://www.vn 9 mình sang cho S-Fone, mạng di động CDMA khác dùng cùng tần s ố tại Việt Nam, quản lý9. Sau gần nửa năm chuẩn bị, đến tháng 6 năm 2008, Hanoi Telecom và Hutchison đã ký hợp đồng với Ericsson và Huawei để có thể quản lý, vận hành và thiết kế mạng cho mạng di động mới trong 3 năm, đồng thời chịu trách nhiệm chuyển đổi toàn h ệ thống mạng từ công nghệ CDMA sang GSM/EDGE10. Tháng 4 năm 2009, Hanoi Telecom đã ra mắt mạng di động mới của mình với tên Vietnamobile, vẫn giữ nguyên đầu số 092 và sẽ đổi máy mới sang công nghệ GSM cho thuê bao đầu số 092 hiện có. Ba tháng sau khi Vietnamobile ra đời, tháng 7/2009, Công ty Cổ phần Viễn thông Di động Toàn Cầu (GTEL Mobile), liên doanh giữa Tổng Công ty Viễn thông Toàn cầu GTEL (GTEL Corp.) của Việt Nam và Tập đoàn VimpelCom của Nga, nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động hàng đầu tại Đông Âu và Trung Á, đã chính thức công bố ra mắt mạng di động thứ 7 tại thị tr ường Việt Nam với thương hiệu Beeline Việt Nam.
Tuy nhiên, năm 2012 EVN Telecom chuyển giao sang cho Viettel, VimpelCom đã rút lui khỏi Việt Nam, bán sổ cổ phần cho công ty nhà nước một thành viên Truyền dẫn và Dịch vụ hạ tầng Gtel vào năm 2012. Hiện nay, số lượng thuê bao di động Việt Nam đã vượt xa dân số của Việt Nam. Một khách hàng hiện nay có thể sử dụng nhiều hơn một thuê bao do các doanh nghiệp viễn thông chạy đua trong khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng mới. Đến năm 2012, Bộ Thông tin và Truyền thông cùng Cục Xúc tiến Thương siết chặt khuyến mãi đến các nhà mạng.
Trước tình hình thực tế như trên thì việc tìm kiếm khách hàng mới rất khó khăn, việc làm sao để giữ chân khách hàng trở nên cực kỳ quan trọng. Do vậy, phục hồi sự hài lòng của khách hàng sau lỗ i dịch vụ xảy trở nên quan trọng nhằm giữ chân khách hàng.vn, 24/04/2008 10 Http://www.2 SƠ LƯỢC VỀ TRUNG TÂM THÔNG TIN DI Đ ỘNG KHU VỰC VI Vào ngày 29/12/2010, Công ty Thông tin Di động có quyết định tách Trung tâm Thông tin Di động Khu vực II và thành lập Trung tâm Thông tin Di động Khu vực VI, có trụ sở chính tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. MobiFone Trung tâm VI có địa bàn quản lý mạng MobiFone bao gồm chín tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, Long An, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu. Theo báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 06 năm 2013, tổng số thuê bao điện thoại được đăng ký và đang hoạt động trên toàn quốc là 148,5 triệu thuê bao, trong đó thuê bao di động chiếm 93,3% tức khoảng 138,6 triệu thuê bao 11.
Số lượng thuê bao của MobiFone tính đến cuối tháng 06 năm 2013 là khoảng 30 triệu, MobiFone Trung tâm VI quản lý khoảng 5 triệu thuê bao. Trong đó, có hơn 500 ngàn thuê bao là trả sau. Tuy số lượng thuê b ao trả sau không nhiều, chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thuê bao củ a Trung tâm nhưng thuê bao trả sau là những thuê bao ổn định, có mức cước cao hơn thuê bao trả trước. Tính đến hết quý III năm 2013, doanh thu củ a Trung tâm là 3.
T rong đó, doanh thu của thuê bao trả sau là khoảng 743 tỷ đồng 12. Bên cạnh các chư ơng trình chăm sóc khuyến mãi và chăm sóc khách hàng của công ty, MobiFone Trung tâm VI được phân cấp các nguồn chi phí. Trong các khoản mục chi phí của Trung tâm VI, có nguồn chi phí chăm sóc khách h àng tương đối lớn, tương ứng với doanh thu thực hiện. Trung tâm được quyền chủ động sử dụng nguồn này để xây dựng, thực hiện các chương trình chăm sóc khách hàng.net/kinh-doanh/ca-nuoc-co-148-5-trieu-thue-bao-dien-thoai-TT6ZCVQ/ 12 Nguồn số liệu nội bộ.3 CÁC LỖI DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG THƯỜNG GẶP KHI SỬ DỤNG DỊCH VỤ DI ĐỘNG CỦA MOBIFONE Trong quá trình cung cấp dịch vụ, MobiFone không thể tránh khỏi lỗi dịch vụ.
Qua khảo sát sơ bộ từ hệ thống Feedback của Trung tâm VI, các lỗi dịch vụ này thường xảy ra gồm có: Quy trình thủ tục phức tạp: Đối với thuê bao trả sau, do là thuê bao được quyền sử dụng trước trả tiền sau nên thủ tục hòa mạng yêu cầu phải có chứng mình nhân dân bản gốc hoặc photo có công chứng , hộ khẩu bản gốc hoặc photo có công chứng nếu muốn sử dụng mức cước cao hoặc do chứng minh nhân dân khác tỉnh. Sau khi hòa mạng, bộ phận thanh toán cước phí phải đến địa điểm khách hàng cư trú xác minh lại thông tin đúng địa chỉ, đúng chủ thuê bao là người đang sử dụng. Bên cạnh đó, khi khách hàng hòa mạng s ố thứ hai trở đi, mặc dù thông tin không thay đổi vẫn phải cung cấp những giấy tờ như chứng minh, hộ khẩu như lần đầu. Việc khách hàng cung cấp giấy tờ tùy thân kh i hòa mạng là theo yêu cầu của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng là những thủ tục cần thiế t để ký kết hợp đồng ràng buộc và phòng trường hợp tranh chấp nên Trung tâm không thay đổi được quy trình này tuy nhiên việc khách hàng đứng tên ký hợp đồng thay người khác, khi xác minh không đúng chủ thuê bao thì chặn chiều gọi của khách hàng, yêu cầu khách hàng làm thủ tục chuyển chủ quyền gây nên nhiều khiếu nại, có trường hợp khách hàng bỏ không sử dụng số mới vừa hợp đồng và bỏ luôn số cũ đang sử dụng.
Mặc dù khách hàng đã sử dụng lâu năm, có lịch sử thanh toán tốt, có hồ sơ lưu trữ đầy đủ trên hệ thống nhưng khi khách hàng hòa mạng số thứ hai mặc dù 12 thông tin không có gì thay đổi nhưng khách hàng vẫn phải cung cấp đầy đủ thủ tục như hòa mạng số đầu tiên.