chương 1 giới thiệu tổng quan lý do hình thành đề tài, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu,ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Chương 2 sẽ bao gồm các cơ sở lý thuyết: bao gồm định nghĩa tổng quát, sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi hướng đến khách hàng,đồng thời đưa ra các giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứuđược sử dụng để xây dựng, hiệu chỉnh, đánh giá các thang đo, các khái niệm nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết đã đề ra.Chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu bao gồm những phần: mô tả mẫu, phân tích nhân tố, kiểm định độ tin cậy của thang đo, chạy phân tích EFA cho tất cả các thang đo, phân tích hồi quy đa biến, kiểm định giả thiết nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu. Chương 5 là chương cuối cùng trình bày kết luận, ý nghĩa khoa học, ý nghĩa ứng dụng của bài nghiê cứu, một số hạn chế của đề tài và kiến nghị cho các nghiên cứu tiếp theo.
6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. KHÁI NIỆM VỀ DỊCH VỤ : Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ: Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt và khó định lượng, có các đặc tính khác như vô hình, không đồng nhất, không thể tách rời và không thể lưu trữ được Theo Heizer và Render (2006), dịch vụ là những hoạt động kinh tế thường tạo ra sản phẩm vô hình (như giáo dục, giải trí, tài chính, y tế, …). Philip Kotler cho rằng dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Zeithaml và Britner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng (Kotler & Armstrong, 2004).TS Nguyễn Văn Thanh cho rằngdịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn. Ở phạm vibài viết này, người thực hiện sử dụng định nghĩa của Zeithaml và Britner (2000) và Kotler và Armstrong(2004) để thực hiện nghiên cứu. ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ 2.
Tính vô hình Dịch vụ là sản phẩm vô hình, chúng không đồng nhất với nhau, chất lượng dịch vụ sẽ được thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ (Svensson, 2002). Tính không đồng nhất Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ, nhân viên phục vụ, cách thức phục vụ, thời gian thực hiện, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.Đặc tính này thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ như dịch vụ ngân hàng. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana & Pitt, 1997). Tính không thể tách rời Tính không tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó phân tách giai đoạn là sản xuất và sử dụng, thông thường việc tạo ra và sử dụng dịch vụ là đồng thời.Khách hàng sẽ đồng hành cùng nhà cung cấp trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Do vậy, người trực tiếp giao dịch với khách hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc cung cấp dịch vụ, chăm sóc khách hàng. Tính không lưu giữ được Dịch vụ không thể cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hoá khác. HÀNH VI HƯỚNG VÀO KHÁCH HÀNG (COB): 2. Định nghĩa: Có khá nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về hành vi hướng đến khách hàng: Kelley(1992), Brown và ctg (2002), Donavan và ctg (2004), Thurau vàThurau (2003).
Do vậy, các thuật ngữ khác nhau được sử dụng trong cơ sở lý thuyết marketing để phản ánh hành vi của nhân viên khi cung cấpdịch vụ cho khách hàng, bao gồm: hành vi ủng hộ xã hội, dịch vụ có sự tham gia của khách hàng, hành vi cá nhân trong tổ chức, và hành vi hướng đến khách hàng (Lee và ctg, 2006; Winsted, 8 2000), hoặc mô tả định hướng vào khách hàng(Kenedy và ctg, 2002) hoặc SOCO: Sales orientation – customer orientation: định hướng bán hàng – định hướng khách hàng (Saxe và Weitz, 1982). Ở góc độ doanh nghiệp, hành vi hướng đến khách hàng được định nghĩa là việc đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu mà vẫn không loại trừ lợi ích của những người khác để phát triển thành một doanh nghiệp hiệu quả trong dài hạn (Hartline và ctg, 2000). Ở góc độ cá nhân, Saxes và Weitz(1982) và một số người khác xác định rằng hành vi hướng vào khách hàng tức là sự sẵn sàng của các nhà cung cấp dịch vụ nhằm tùy chỉnh dịch vụ tùy theo từng khách hàng(tùy theo từng nhu cầu, từng vấn đề, tình huống đặc biệt). Saxe vàWeitz (1982) cũng cho rằng hướng đến khách hàng là mức độ mà nhà cung cấp dịch vụ hoặc nhân viên của họ nỗ lực nhằm thấu hiểu và thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng.
Winsted (2000) cho rằng nói đến hành vi hướng đến khách hàng (COB) là nói đến hành vi do nhân viên cung cấp dịch vụ thể hiện trong suốt quá trình giao dịch nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Stock và Hoyer (2002) thì lại cho rằng hành vi hướng đến khách hàng là các hành vi mà các nhân viên của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sử dụng các khái niệm về marketing nhằm giúp khách hàng ra quyết định mua hàng (sử dụng dịch vụ) và thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo Brown và ctg (2002), hành vi hướng đến khách hàng là một “khuynh hướng của cá nhân để đáp ứng nhu cầu khách hàng trong công việc. Các yếu tố của hành vi hướng đến khách hàng: Đặc biệt, các nhà nghiên cứu trước đây đã xác định được rằng các khía cạnh liên quan đến nhân viên dịch vụ là các yếu tố của việc khách hàng đánh giá chất lượng dịch vụ.
Có đến 3 trong 5 yếu tố về chất lượng dịch vụ khách hàng theo nghiên cứu của Parasuraman và ctg (1988) là đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp đến hành vi của nhân viên (theo SERVQUAL: sự phản hồi, sự đảm bảo và sự thấu hiểu). 9 Theo nghiên cứu của Winsted (2000) đối với các khách hàng Mỹ và Nhật Bản, thì ngoài một số khác biệt giữa hai nước thì bà đã tìm ra nhiều khía cạnh của COB. Cả hai nước đều có ba chiều hướng chung: Thứ nhất, đó là bao gồm các yếu tố: sự thấu cảm, sự đảm bảo, sự quan tâm đáp trả (Parasuraman và ctg, 1988), tính xác thực, sự lắng nghe, sự cống hiến. Thứ hai, đó là sự lễ độ: bao gồm tất cả các hành vi mà nhân viên làm dịch vụ cần tránh để cung cấp dịch vụ thỏa đáng cho khách hàng (Parasuraman và ctg, 1991) và tránh sự không thỏa mãn của khách hàng (Winsted, 2000), ví dụ như hành vi kiêu căng, khó chịu hoặc giả lơ không ngó ngàng đến khách hàng.
Thứ ba, là sự ăn ý, hợp nhau: ví dụ như các hành vi như mỉm cười và cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ và nhiệt tình. Theo Brown và ctg (2002), hành vi hướng đến khách hàng là một “khuynh hướng của cá nhân để đáp ứng nhu cầu khách hàng trong công việc và bao gồm hai yếu tố: niềm tin của nhân viên về việc họ có thể đáp ứng mong đợi của khách hàng và mức độ mà nhân viên mong muốn tương tác với khách hàng. Donavan và ctg (2004) đưa ra định nghĩa về hành vi hướng đến khách hàng dựa trên kết quả nghiên cứu của Brown và ctg (2002) và phân tích tác động của hành vi hướng đến khách hàng đối với khách hàng. Họ cho rằng sự cam kết của tổ chức và sự thỏa mãn trong công việc là các biến có tác động trong mô hình nghiên cứu của họ.
Ngược lại với Brown và ctg (2002), họ cho rằng có 5 yếu tố của hành vi hướng đến khách hàng, bao gồm “nhu cầu thỏa mãn”, “nhu cầu hiểu được khách hàng”, “nhu cầu đối với mối quan hệ giữa các cá nhân”, “nhu cầu cung cấp” và “nhu cầu giao tiếp”. Kelley (1992) là một trong những người đầu tiên nghiên cứu cấu trúc của hành vi hướng đến khách hàng của đội ngũ nhân viên, ông ta đã đưa ra giả thuyết và kiểm nghiệm thực tế về các yếu tố của hành vi hướng đến khách hàng của nhân viên, bao gồm cả yếu tố thuộc về tổ chức như là môi trường tổ chức và sự hòa nhập cũng như các yếu tố thuộc về cá nhân như là định hướng và nổ lực phát triển. Thurau vàThurau (2003) xác định rằng hành vi hướng đến khách hàng là hành vi của nhân viên trong sự tương tác giữa người với người và đưa ra định nghĩa 3 yếu 10 tố của hành vi hướng đến khách hàng của nhân viên. Cách tiếp cận của họ dựa trên các yêu cầu mà nhân viên cung cấp dịch vụ phải thỏa mãn nhu cầu của khách hàng thông qua quá trình tương tác với nhau.
Dựa trên nghiên cứu của nhà tâm lý học người Đức Von (1988), người đã chỉ ra sự khác biệt giữa “sự hiểu biết của cá nhân” với “sự sẵn sàng” và “sự thừa nhận xã hội” như là điều kiện tiên quyết của hành vi của nhân viên. Họ đưa ra 3 yếu tố hành vi hướng đến khách hàng: kỹ năng hướng vào khách hàng của nhân viên, động cơ phục vụ khách hàng, và quyền tự ra quyết định. Ngược với nghiên cứu trước đây về vấn đề này, họ suy diễn rằng một nhân viên chỉ có thể cư xử hoàn toàn hướng vào khách hàng nếu có đầy đủ các yếu tố: được thúc đẩy, có năng lực và được phép đối xử với khách hàng theo yêu cầu của họ. Vai trò, tính chất, ý nghĩa của hành vi hướng vào khách hàng: Bởi vì tính vô hình của dịch vụ mà sự tương tác và hòa hợp giữa nhân viên với khách hàng rất cao thông qua quá trình cung cấp dịch vụ.Vì vậy, hành vi của nhân viên trực tiếp giao dịch khách hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với việc ra quyết định của khách hàng.