Chương 1 - Giới thiệu: Giới thiệu lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu; phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; giới hạn và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày được khái niệm về Lý thuyết trọng dịch vụ, khái niệm đồng tạo sinh, sự hỗ trợ xã hội, cộng đồng ảo. Từ đó, phát triển các giả thuyết về mối quan hệ giữa sự hỗ trợ xã hội đến sự sẵn sàng tham gia vào đồng tạo sinh của khách hàng. Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Giới thiệu phương pháp nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu, cơ cấu mẫu và kết quả nghiên cứu định tính.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày các kết quả của nghiên cứu định lượng, từ đó đưa ra kết luận cho các giả thuyết được đặt ra ở Chương 2. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Tóm tắt kết quả nghiên cứu và nếu ra các hàm ý quản trị, hạn chế của đề tài. Từ đó, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu: các khái niệm nghiên cứu, mối liên hệ giữa các khái niệm nghiên cứu và các mô hình nghiên cứu liên quan.
Từ đó đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Lý thuyết trọng dịch vụ (Service Dominant Logic) Lý thuyết trọng dịch vụ (Service Dominant Logic - SDL) được giới thiệu bởi Stephen Vargo và Robert Lusch lần đầu vào vào năm 2004 với 8 tiền đề cơ bản và qua các lần điều chỉnh 2008, 2016 đến nay có tổng cộng 11 tiền đề cơ bản, trong đó có 5 tiên đề (Bảng 2. Theo Vargo và Lusch (2014, 2016), nguyên lý trung tâm của SDL là dịch vụ được đổi lấy dịch vụ, nền tảng trao đổi kinh tế xã hội là quá trình dịch vụ chứ không phải là các đơn vị đầu ra như hàng hóa, dịch vụ. Hàng hóa là cơ chế phân phối để cung ứng dịch vụ và mọi nền kinh tế đều là nền kinh tế dịch vụ (Vargo và Lusch, 2016).
Giá trị được đồng tạo sinh với sự tham gia của nhiều nhân tố (doanh nghiệp, khách hàng, nhà cung cấp,.) thông qua quá trình tương tác và tích hợp nguồn lực với nhau (Vargo và Lusch, 2016) và trọng tâm của lý thuyết trọng dịch vụ là tập trung vào quá trình đồng tạo sinh giá trị khi có sự tham gia của người tiêu dùng (Lusch và Vargo, 2014), trong đó khách hàng luôn là tác nhân xác định và tạo ra giá trị sử dụng (Vargo và Lusch, 2004, 2008). Các tiên đề của lý thuyết trọng dịch vụ Tiền đề (Foundation Nội dung Ghi chú al Premise - FP) FP1 Dịch vụ là nền tảng cơ bản của việc trao đổi. Tiên đề 1 Trao đổi gián tiếp che dấu nền tảng cơ bản của Không điều FP2 trao đổi. chỉnh so với năm 7 2008 Không điều Hàng hóa là cơ chế phân phối cho việc cung cấp FP3 chỉnh so với năm dịch vụ.
2004 Nguồn lực phi vật chất là nguồn lực cơ bản của Điều chỉnh năm FP4 lợi ích chiến lược. 2008, 2016 Không điều FP5 Tất cả các nền kinh tế đều là nền kinh tế dịch vụ. chỉnh so với năm 2004 Giá trị được đồng tạo sinh bởi nhiều tác nhân và FP6 Tiên đề 2 luôn có sự tham gia của người thụ hưởng. Các tác nhân không thể chuyển giao giá trị Điều chỉnh năm FP7 nhưng có thể tham gia tạo và đề xuất các giá trị 2008, 2016 đề nghị.
Quan điểm lấy dịch vụ làm trung tâm luôn Điều chỉnh năm FP8 hướng đến người thụ hưởng (dịch vụ) và mối 2008, 2016 quan hệ. Tất cả các tác nhân kinh tế và xã hội đều là các FP9 Tiên đề 3 đơn vị tích hợp nguồn lực. Giá trị luôn được xác định theo đặc trưng riêng FP10 Tiên đề 4 và mang tính trải nghiệm của người thụ hưởng. Đồng tạo sinh giá trị được phối hợp thông qua Tiên đề 5 FP11 cơ chế được thiết lập bởi tác nhân và sự liên (FP mới) 8 quan lẫn nhau của các cơ chế đó.
(Nguồn: Vargo và Lusch (2016)) Lý thuyết trọng dịch vụ nhấn mạnh rằng giá trị cho khách hàng không chỉ được tạo ra bởi doanh nghiệp mà còn thông qua tương tác và tích hợp nguồn lực giữa doanh nghiệp, khách hàng và các bên liên quan. Khách hàng tương tác với các đối tác trong mạng lưới dịch vụ (phát triển sản phẩm), bao gồm cả doanh nghiệp và các đối tác khác, các tương tác này ảnh hưởng đến cảm nhận của khách hàng. Do đó, doanh nghiệp có thể tận dụng nguyên lý SDL để cải thiện hiệu suất kinh doanh thông qua đổi mới sản phẩm hoặc dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp có thể tiếp cận với khách hàng một cách nhanh chóng thông qua mạng xã hội. Hỗ trợ xã hội (Social support) Khái niệm hỗ trợ xã hội được Lin (1986) định nghĩa là sự cung cấp vật chất và/hoặc sự cảm nhận bởi cộng đồng, mạng xã hội và các đối tác tin cậy.
Còn theo Cobb (1976), hỗ trợ xã hội đề cập đến cảm nhận hoặc trải nghiệm cá nhân trước sự quan tâm, giúp đỡ của những người trong cộng đồng mà họ có tham gia. Cũng theo Cobb (1976), hỗ trợ xã hội có thể giúp người lao động giảm bớt căng thẳng bằng cách cung cấp các loại hỗ trợ khác nhau: - Hỗ trợ thông tin: cung cấp các lời khuyên gợi ý hoặc chỉ dẫn để giải quyết các vấn đề trong công việc. - Hỗ trợ cảm xúc: sự cung cấp các lời an ủi, quan tâm đối với người lao động. - Hỗ trợ vật chất: cung cấp các nguồn lực về vật chất, tiền bạc, thực phẩm, quần áo hoặc nơi ở cho người lao động.
Xét ở góc độ không gian ảo, Liang và cộng sự (2011) đề xuất hỗ trợ xã hội có hai thành phần phổ biến là hỗ trợ thông tin và hỗ trợ cảm xúc. Trong đó, Hỗ trợ thông tin đề cập đến việc cung cấp các thông điệp, dưới dạng khuyến nghị, lời khuyên hoặc kiến thức, có thể hữu ích cho việc giải quyết vấn đề. Hỗ trợ về mặt cảm xúc đề cập đến việc cung cấp các thông điệp liên quan đến các mối quan tâm về mặt cảm xúc 9 như quan tâm, thấu hiểu hoặc đồng cảm. Hai loại thông điệp này là cơ chế hỗ trợ chính cho các tương tác xã hội trong cộng đồng trực tuyến.
Trong môi trường ảo, hỗ trợ thông tin có thể cung cấp giải pháp, kế hoạch hoặc diễn giải. Hỗ trợ cảm xúc tập trung vào việc bày tỏ mối quan tâm của một người và do đó có thể giúp giải quyết vấn đề một cách gián tiếp. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về hỗ trợ xã hội, Nadem và cộng sự (2019) cũng xác định hỗ trợ xã hội là một khái niệm bậc cao bao gồm hỗ trợ thông tin về hỗ trợ cảm xúc, có tác động tích cực lên ý định tham gia của khách hàng. Do đó, để thực hiện nghiên cứu về hỗ trợ xã hội, nghiên cứu tiếp cận khái niệm hỗ trợ xã hội theo cấu trúc bậc hai gồm hai thành phần là hỗ trợ cảm xúc và hỗ trợ thông tin.
Cộng đồng ảo (Virtual community) Cộng đồng ảo là một loại cộng đồng mà mọi người cùng thảo luận về một chủ đề công khai trên internet trong một thời gian dài, với một lượng đáng kể cảm xúc cá nhân và hình thành các mối quan hệ cá nhân (Rheingold, 2000). Các thành viên của cộng đồng ảo thiết lập và duy trì các trật tự xã hội (ví dụ: chuẩn mực xã hội, xây dựng bản sắc) làm cho cộng đồng ảo trở nên giàu có và quan trọng như các cộng đồng truyền thống (Fox và Roberts, 1999). Việc tham gia một cộng đồng ảo khiến các thành viên (của cộng đồng này) trở thành một phần của nhóm khách hàng đặc quyền, đồng nhất với nhóm này và có khả năng chia sẻ các giá trị liên quan (Fullerton, 2014). Nghiên cứu về tiếp thị coi cộng đồng ảo là phương tiện truyền thông mang tính cách mạng mang lại cơ hội xây dựng, duy trì mối quan hệ giữa công ty và khách hàng (Bagozzi và Dholakia, 2006; Muniz và O'Guinn, 2001).
Sự sẵn sàng tham gia của khách hàng (Customer participation readiness) Theo Chan, Yim và Lam (2010) và Dabholkar (1990), sự tham gia của khách hàng là mức độ mà khách hàng đóng góp nỗ lực, sở thích, kiến thức hoặc các đầu vào khác vào việc sản xuất và cung cấp dịch vụ. Sự tham gia của khách hàng đã trở thành công cụ quan trọng để các doanh nghiệp cải thiện năng suất. Dong và cộng sự (2015) khi nghiên cứu về ảnh hưởng của sự tham gia của khách hàng đến kết quả dịch vụ đã đề xuất khái niệm sự sẵn sàng tham gia của khách hàng là mức độ chuẩn bị của khách 10 hàng để tham gia vào quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ, trong đó ba thành phần của sự sẵn sàng tham gia của khách hàng vào quá trình dịch vụ là khả năng cảm nhận, lợi ích cảm nhận và sự nhận diện vai trò được tóm tắt ở Bảng 2. Các cấu trúc sẵn sàng tham gia của khách hàng và những biểu hiện của chúng trong nghiên cứu dịch vụ Biến quan Bài báo tham Định nghĩa Mối quan hệ với các sát khảo biến khác Khả năng cảm nhận Khả năng Meuter và cộng sự Có đủ kỹ năng và sự Dung hòa giữa những (2005) tự tin cần thiết để tiền đề (đặc điểm đổi hoàn thành nhiệm vụ.
mới và sự khác biệt cá nhân) và việc thử nghiệm các công nghệ tự phục vụ mới. Năng lực Yim, Chan, và Sự tự tin và khả năng Điều phối sự tham gia bản thân Lam (2012) nhận thức khi tham của khách hàng và sự gia hưởng thụ khi tham gia. Khả năng Auh và cộng sự Chất lượng đầu vào Tiền đề của sự hợp tác của khách (2007) mà khách hàng cung hiệu quả hàng cấp cho quá trình sản xuất dịch vụ Khả năng Dong và cộng sự Kiến thức và kỹ năng Điều phối sự tham gia cảm nhận (2015) được khách hàng cảm của khách hàng và kết nhận cho phép họ quả dịch vụ (chất lượng thực hiện nhiệm vụ dịch vụ và sự hài lòng) 11 tham gia một cách hiệu quả Lợi ích cảm nhận của sự tham gia Động lực Meuter và cộng sự Mong muốn nhận Dung hòa những tiền đề (2005) được phần thưởng (đặc điểm đổi mới và sự liên quan đến việc sử khác biệt cá nhân) và dụng thử nghiệm các việc thử nghiệm các công nghệ tự phục công nghệ tự phục vụ vụ.