CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại nhiều nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, tài chính vi mô (TCVM) được đánh giá là có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong công cuộc giảm nghèo đói và phát triển xã hội. Với xu thế hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ký CPTPP đang mở ra rất nhiều cơ hội phát triển cho khu vực tài chính ngân hàng. Tuy nhiên, với sức ép của hội nhập cũng như những tiêu chuẩn an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD) đang làm cho người nghèo, các đối tượng chính sách cũng như các doanh nghiêp siêu nhỏ ngày càng khó có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức.
Theo WB (2015), Việt Nam là một trong 25 quốc gia có 75% dân số không được tiếp cận các dịch vụ tài chính; chỉ khoảng 50% doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tiếp cận được vốn vay của ngân hàng. Trong khi đó, thị trường tín dụng phi chính thức tồn tại dưới dạng Hụi, Họ, Phường vẫn đang diễn ra ở cả thành thị và nông thôn với độ rủi ro lớn và có xu hướng hoạt động ngày càng tinh vi dưới nhiều hình thức nhằm kiếm lời dựa trên sự khó khăn, túng quẫn của người nghèo đang gây ra nhiều hệ lụy xấu cho xã hội (Bùi Diệu Anh, 2016). Vì vậy, tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính bởi tất cả mọi người hay còn gọi là tài chính toàn diện có ý nghĩa rất quan trọng và hữu ích đối với tất cả các cá nhân, doanh nghiệp, giúp tạo điều kiện thuận lợi, nâng cao năng lực và bảo đảm hoạt động kinh tế của họ. Tài chính toàn diện cũng hỗ trợ tăng cường ổn định tài chính và phát triển kinh tế trên diện rộng, giúp đảm bảo tăng trưởng toàn diện.
Trong bối cảnh đó, các tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) truyền thống mặc dù còn nhỏ bé cả về mặt số lượng và thị phần nhưng được đánh giá là có mức độ tiếp cận sâu tới khách hàng tốt thứ hai trên thị trường chỉ sau NHCSXH, do sứ mệnh và tầm nhìn của các tổ chức này thường vì mục tiêu giảm nghèo, nâng cao năng lực khách hàng, hoạt động chủ yếu ở các vùng khó khăn, khó tiếp cận với các dịch vụ tài chính chính thức (Lê Thanh Tâm, 2015). Vì vậy, phát triển các TCTCVM nhằm cung ứng dịch vụ TCVM được coi là giải pháp quan trọng góp phần giải quyết nhu cầu về các dịch vụ tài chính cho những đối tượng này, là tiền đề cho tăng cường tài chính toàn diện. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Tuy nhiên, nhiều TCTCVM tại Việt Nam còn non trẻ, hoạt động khó khăn và phụ thuộc vào nhà tài trợ. Trong khi đó, trên thế giới, việc phát triển các TCTCVM thành các TCTCVM thương mại được coi là một phương thức hiệu quả để phục vụ một bộ phận lớn dân cư ở các khu vực thành thị, nông thôn, vùng sâu vùng xa một cách bền vững (The economist intelligence unit, 2014).
Qua một số nghiên cứu của Mersland and Ström (2010), Marr (2002), Hermes and Lensink (2008), Sofia Bredbeg & Sara Ek (2011), hoạt động TCVM được thể hiện ở 2 khía cạnh chính: (1) Mức độ tiếp cận, (2) mức độ bền vững. Tuy nhiên, những nhân tố nào ảnh hưởng đến hoạt động của các TCTCVM xét trên 2 khía cạnh là mức độ tiếp cận và mức độ bền vững chưa được nhiều nghiên cứu đề cập một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, sự khác nhau giữa môi trường kinh tế xã hội Việt Nam và trên thế giới có thể dẫn đến mức độ tác động khác nhau của các nhân tố ảnh hưởng. Tại Việt Nam, một số nghiên cứu gần đây đề cập đến hoạt động TCVM như “Phát triển hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam” (Nguyễn Quỳnh Phương, 2017); “Phát triển hoạt động TCVM tại TCTD Việt Nam” (Phạm Bích Liên, 2015); “Phát triển TCVM tại Việt Nam” (Nguyễn Đức Hải, 2012) ; “Mức độ bền vững của các TCTCVM Việt Nam: Thực trạng và một số khuyến nghị” (Nguyễn Kim Anh & Lê Thanh Tâm, 2013).
Các TCTCVM truyền thống, hoạt động của các tổ chức này có nhiều điểm khác biệt so với các TCTD khác cung cấp TCVM như hoạt động theo các chương trình mục tiêu, nguồn vốn phụ thuộc chủ yếu vào các nhà tài trợ. Vì vậy, việc nghiên cứu về hoạt động của các TCTCVM quy mô nhỏ bao gồm cả chính thức và bán chính thức là cần thiết. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu về hoạt động TCVM mới chỉ chủ yếu tập trung vào hoạt động của các TCTD chính thức thuộc sở hữu Nhà nước như NHCSXH, NHNo&PTNT, Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), NHTM như NHTM cổ phần bưu điện Liên Việt. Qua tổng quan nghiên cứu (mục 1.2 dưới đây), khoảng trống nghiên cứu hiện nay là: chưa nghiên cứu nào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của TCTCVM xét trên 2 khía cạnh là mức độ độ bền vững và mức độ tiếp cận bằng cả 2 phương pháp định tính và định lượng.
Các TCTCVM muốn đạt được mục tiêu kép là phát triển bền vững và mục tiêu xã hội thì phải gia tăng mức độ tiếp cận đến đối tượng khách hàng mục tiêu – là những người nghèo, người thu nhập thấp và đồng thời phải đạt được sự bền vững để có thể tồn tại trong dài hạn. Việc tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tích cực cũng như những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của TCTCVM tại Việt Nam thông qua nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận và mức độ bền vững sẽ là một căn cứ quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 khuyến nghị đối với các TCTCVM cũng như các cơ quan hữu quan nhằm phát triển hoạt động của các TCTCVM tại Việt Nam trong thời gian tới. Xuất phát từ những lý do khách quan trên, đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” đã được tác giả lựa chọn nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu Hoạt động TCVM đã xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và sự kiện “cha đẻ” của Ngân hàng Grameen Bank là Muhammad Yunus nhận được thưởng Nobel Hòa Bình cho những cống hiến của ông đối với ngành TCVM đã tạo ra một tiếng vang lớn thu hút sự chú ý của toàn thế giới, khẳng định hơn nữa vai trò của TCVM đối với công cuộc giảm nghèo và phát triển xã hội.
Cùng với quá trình phát triển của hoạt động TCVM trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan. Các nghiên cứu liên quan đến hoạt động TCVM và đánh giá hoạt động của các TCTCVM Có nhiều quan niệm khác nhau về việc làm thế nào để đánh giá hoạt động của các TCTCVM. Có thể chia thành 4 dòng quan điểm chính như sau: Dòng quan điểm thứ nhất: đánh giá hoạt động của TCTCVM được thể hiện qua hiệu quả hoạt động tài chính (Armendáriz và Morduch 2010, Tucker, 2001; Abate và các cộng sự, 2002; CGAP, 2009; Tulchin, Sassman, Wolkomir, 2009). Dòng quan điểm thứ hai: đánh giá hoạt động của TCTCVM qua 2 tiêu chí cơ bản là (1) mức độ tiếp cận khách hàng, (2) sự bền vững của tổ chức.
Đại diện cho quan điểm này bao gồm: các nghiên cứu lý thuyết (Ledgerwood, 1999; Littlefield và cộng sự, 2003; Armendáriz de Aghion, B. and Morduch, 2006) và các trường hợp nghiên cứu cụ thể Khandker, 1998; Yunus, 2005; Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013), Phạm Bích Liên (2016). Dòng quan điểm thứ ba: đánh giá hoạt động của TCTCVM dựa trên 3 mục tiêu: (1) tiếp cận với đối tượng khách hàng TCVM, (2) bền vững tài chính, (3) tác động của hoạt động (mục tiêu xã hội). Đại diện cho quan điểm này là Zeller và Meyer (2002); Shakil Quayes (2012); Manijeh Sabi (2013); Nguyễn Đức Hải (2012); Nguyễn Kim Anh, Lê Thanh Tâm (2013); Nguyễn Quỳnh Phương (2017).
Dòng quan điểm thứ tư: đánh giá hoạt động của TCTCVM thông qua góc nhìn từ 2 phía TCTCVM và khách hàng (Sofia Bredbeg & Sara Ek, 2011). Theo quan điểm nhìn nhận hoạt động TCVM từ phía các TCTCVM thì hoạt động TCVM được thể hiện ở 3 khía cạnh chính: (1) Mức độ tiếp cận, (2) sự bền vững và (3) tỷ lệ hoàn trả vốn vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo quan điểm nhìn nhận hoạt động TCVM từ phía người đi vay thì hoạt động TCVM được thể hiện ở 2 khía cạnh chính: (1) vốn xã hội và (2) sự cải thiện điều kiện kinh tế của hộ gia đình Anderson and Locker (2002). Như vậy, khoảng trống nghiên cứu là mặc dù đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam thực hiện đánh giá hoạt động của TCTCVM thông qua 2 tiêu chí cơ bản là mức độ bền vững và mức độ tiếp cận nhưng các nghiên cứu này mới chỉ thực hiện việc đánh giá mức độ bền vững của TCTCVM và mức độ tiếp cận của TCTCVM từ phía các TCTCVM, chưa đề cập đến mức độ tiếp cận của TCTCVM từ phía khách hàng.
Do đó, kế thừa các kết quả nghiên cứu trước cũng như điều kiện nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam, tác giả phân tích, đánh giá hoạt động của TCTCVM thông qua 2 tiêu chí cơ bản là: (1) mức độ bền vững của TCTCVM và (2) mức độ tiếp cận nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững, các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận bằng phương pháp nghiên cứu định tính. Sau đó, nghiên cứu định lượng được sử dụng để đi sâu kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ bền vững của TCTCVM và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận của TCTCVM (từ phía khách hàng). Các nghiên cứu về phân tích mối quan hệ giữa mức độ bền vững và mức độ tiếp cận của TCTCVM Xuất phát từ quan điểm đánh giá hoạt động của TCTCVM thông qua 2 tiêu chí là (1) mức độ bền vững (2) mức độ tiếp cận, nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận và mức độ bền vững được thực hiện cho 2 nhóm kết quả nghiên cứu trái ngược nhau khi thực hiện ở các quốc gia khác nhau: Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ tiếp cận và mức độ bền vững cho thấy có sự đánh đổi giữa mức độ tiếp cận và mức độ bền vững.