LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1 Yêu cầu nghiên cứu lý luận Tại các quốc gia trên thế giới và đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nhƣ Việt Nam, tài chính đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung (Agnello và cộng sự, 2012) và xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội nói riêng (Ledgerwood, 2013). Tuy nhiên, nếu nhƣ mức độ tiếp cận các dịch vụ tài chính cũng nhƣ phạm vi dịch vụ bị hạn chế thì lại có thể kìm hãm sự phát triển của cá nhân, doanh nghiệp. Tỉ lệ ngƣời nghèo trong xã hội cũng vì thế mà tăng lên.
Chính vì vậy phát triển một hệ thống tài chính toàn diện, đáp ứng nhu cầu của tất cả các cá nhân trong xã hội là mục tiêu mà bất kì nền kinh tế nào cũng muốn hƣớng tới. Trong xu hƣớng đó, đối tƣợng ngƣời nghèo, ngƣời có thu nhập thấp nhận đƣợc sự quan tâm nhiều hơn cả, bởi còn nhiều rào cản nhƣ trình độ, mức độ rủi ro hay giới tính… hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính từ khu vực chính thức của những đối tƣợng này. Chính vì vậy, vào khoảng thế kỷ thứ 17, tài chính vi mô đã đƣợc ra đời nhằm giúp ngƣời nghèo dễ dàng tiếp cận hơn với các dịch vụ tài chính. Mô hình này sau đó đã nhanh chóng phát triển và lan rộng ra nhiều quốc gia trên thế giới.
Cụ thể, qua quá trình hoạt động, số liệu thống kê của Microfinance Barometer cho thấy các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới đã cung ứng dịch vụ cho khoảng 136 triệu khách hàng thu nhập thấp vào năm 2016 và 139 triệu khách hàng vào năm 2017. Cũng theo thống kê này, tỉ lệ tăng trƣởng về số lƣợng khách hàng của MFIs cho hai năm 2016 và 2017 lần lƣợt là 9. Nhƣ vậy, có thể thấy mặc dù số lƣợng khách hàng sử dụng dịch vụ từ các tổ chức tài chính vi mô trên thế giới vẫn đang trên đà tăng trƣởng, nhƣng tốc độ tăng trƣởng đang chậm lại dần. Quan trọng hơn, khi so sánh giữa quy mô khách hàng hiện nay của tổ chức tài chính vi mô với tỉ lệ 10.9 ngƣời trên thế giới đang phải sống dƣới mức thu nhập $2/ngày theo thống kê của tỉ lệ ngƣời nghèo trên thế giới vào năm 2018, rõ ràng đối 2 tƣợng ngƣời nghèo đƣợc tiếp cận với dịch vụ tài chính vi mô vẫn còn rất nhỏ so với nhu cầu.
Chính vì vậy, duy trì hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô trong dài hạn để có thể phục vụ nhiều hơn nữa khách hàng có thu nhập thấp trong tƣơng lai là vấn đề nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Trong đó Peter (2007); Daher và Le Saout (2013) và Quayes (2015) đều nhấn mạnh đạt đƣợc bền vững chính là chìa khóa của vấn đề bởi chỉ khi các tổ chức tài chính vi mô hoạt động bền vững, họ mới có thể phục vụ khách hàng trong một thời gian dài (Rhyne, 1998; Meyer, 2002) và giúp cho khách hàng của họ thoát nghèo một cách bền vững. Quan điểm này cũng hoàn toàn đồng nhất với kết luận đƣợc đƣa ra bởi các nhà nghiên cứu trong nƣớc nhƣ Nguyễn Kim Anh và cộng sự (2013) khi các tác giả khẳng định đạt đƣợc sự bền vững chính là cơ sở nền tảng để các tổ chức tài chính vi mô có thể phục vụ thêm đƣợc nhiều khách hàng hơn nữa trong tƣơng lai. Tuy nhiên, Ndanyenbah (2017) trong nghiên cứu về sự biến đổi, sụp đổ và bền vững tài chính của MFIs đã chỉ ra rằng từ những năm 1990 khi mà các nhà tài trợ và Chính Phủ nhận thấy không còn đủ nguồn để tài trợ cho ngƣời nghèo thông qua hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô, thì cấu trúc vốn đã thực sự trở thành thách thức đối với các tổ chức tài chính vi mô trên con đƣờng đạt đƣợc sự bền vững.
Điều này đã dẫn tới nhu cầu tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụ cho hoạt động của MFIs. Tuy nhiên, cũng trên con đƣờng thƣơng mại hóa, vấn đề đảm bảo hiệu quả xã hội của MFIs cũng là đề tài đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lƣu tâm, bởi quan điểm hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô đang chịu ảnh hƣởng rất lớn từ động lực và mục tiêu của các nhà tài trợ khác nhau (Jasmina Devinck, 2013). Do đó, sự thay đổi trong cấu trúc vốn của MFIs hẳn nhiên có những tác động nhất định đến định hƣớng phát triển cả về bền vững tài chính và hiệu quả xã hội của các tổ chức tài chính vi mô trong tƣơng lai.2 Yêu cầu nghiên cứu thực tiễn Đƣợc hình thành từ khá sớm vào giai đoạn những năm 1980, hoạt động tài chính vi mô tại Việt Nam đã trải qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển với những 3 thành quả đáng ghi nhận nhƣ giá trị tổng tài sản không ngừng tăng lên, số lƣợng khách hàng đƣợc tiếp cận với các dịch vụ tài chính và phi tài chính tại các tổ chức tài chính vi mô liên tục tăng trƣởng qua các năm (Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Hải, 2016), công tác triển khai các sản phẩm, dịch vụ nhƣ tín dụng, huy động tiết kiệm cũng nhận đƣợc đánh giá ngày càng cao từ phía khách hàng (VMFWG, 2017). Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, hoạt động của tổ chính tài chính vi mô tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng vấp phải những khó khăn nhất định.
Cụ thể, thời điểm năm 2010 khi nƣớc ta đƣợc cấp phép bƣớc vào hàng ngũ các nƣớc có thu nhập trung bình, thì nguồn vốn ƣu đãi của tổ chức Phi Chính Phủ nƣớc ngoài vào Việt Nam có xu hƣớng thu hẹp dần. Do đó, việc tìm kiếm các nguồn vốn để duy trì hoạt động của các tổ chức, chƣơng trình, dự án tài chính vi mô bắt đầu trở nên khó khăn hơn. Điều này đã tạo nên thách thức cho các tổ chức trong việc phải nhanh chóng thích nghi, và tìm kiếm các nguồn vốn mới thay thế nhằm duy trì hoạt động trong dài hạn. Tuy nhiên, để tiếp cận với các nguồn vốn từ thị trƣờng, các tổ chức phải đảm bảo tuân thủ các quy định về hoạt động và chế độ tài chính theo yêu cầu của pháp luật – những điều kiện mà không phải trong thời gian ngắn các tổ chức có thể đáp ứng đƣợc.
Bên cạnh đó, đa phần các tổ chức tài chính vi mô đều chƣa có định hƣớng cụ thể về phát triển nguồn vốn trong tƣơng lai. Chính vì vậy, công tác quản lý và phát triển nguồn vốn phục vụ cho hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thực sự là một thách thức đối với lãnh đạo của MFIs. Hơn thế nữa, trong bối cảnh nguồn vốn gặp khó khăn, các nhà quản lý của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam còn phải đối mặt với áp lực đảm bảo cân bằng giữa bền vững tài chính và hiệu quả xã hội bởi đây chính là nguồn gốc sức mạnh của ý tƣởng về tài chính vi mô (Sinha, 2006). Cụ thể, trong khoảng thời gian từ 2010 trở về đây, số liệu thu thập đƣợc từ Danh bạ tài chính vi mô của Nhóm công tác tài chính vi mô Việt Nam cho thấy khả năng bù đắp các chi phí hoạt động từ thu nhập hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam đang có xu hƣớng giảm dần.
Bên cạnh đó, chỉ số hiệu quả xã hội theo tính toán của tác giả cũng có chiều hƣớng đi xuống. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc tiến hành nghiên cứu tác động 4 của từng nguồn vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô để đƣa ra những định hƣớng, khuyến nghị phù hợp cho tổ chức tài chính vi mô trong việc lựa chọn và phát triển nguồn vốn là điều cần thiết. Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và hiệu quả xã hội (SPI) của các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu, khoảng trống trong lĩnh vực nghiên cứu Cấu trúc vốn, mức độ bền vững và hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô trong những năm qua đã thu hút đƣợc rất nhiều sự quan tâm từ phía các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nƣớc.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trƣớc đây đa phần mới chỉ nghiên cứu riêng rẽ tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững hoặc tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs, mà chƣa có nghiên cứu nào đi phân tích tác động của cấu trúc vốn đến đồng thời cả hai yếu tố này. Chính vì vậy, trong phần tiếp theo các nghiên cứu tiêu biểu về tác động của cấu trúc vốn đến mức độ bền vững và tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả xã hội của MFIs sẽ lần lƣợt đƣợc phân tích. Tổng quan nghiên cứu về cấu trúc vốn và mức độ bền vững của tổ chức tài chính vi mô 2.1 Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Thực hiện kiểm chứng lý thuyết vòng đời trong tài trợ MFIs, Bogan (2012) tập trung vào phân tích mức độ bền vững của MFIs qua các giai đoạn phát triển (mới, trẻ và trƣởng thành) thông qua hai mô hình hồi quy. Trong đó, mô hình 1 phân tích các yếu tố tác động tới mức độ bền vững của MFIs, mô hình 2 tập trung đánh giá sự tác động của cấu trúc vốn, đặc tính và điều kiện kinh tế vĩ mô của quốc gia đến khả năng đạt đƣợc độ bền vững của tổ chức.
Kết quả các mô hình cho thấy quy mô và cấu trúc vốn có tác động rõ nét đến mức độ bền vững của MFIs. Cụ thể, Bogan (2012) chỉ ra rằng việc quá phụ thuộc vào các khoản tài trợ trong tổng nguồn vốn sẽ khiến cho MFIs ngày càng xa rời mục tiêu bền vững. Do đó, thoát dần khỏi các nguồn tài trợ, và hoạt động theo định hƣớng 5 thƣơng mại sẽ là bƣớc đi cần thiết trong tƣơng lai để MFIs có thể đa dạng hóa nguồn vốn, cũng nhƣ thu hút đƣợc tiền gửi tiết kiệm cho tổ chức. Trên cơ sở đó các tổ chức tài chính vi mô mới có thể mở rộng danh mục tín dụng vi mô, giảm thiểu lãi suất cho vay, nâng cao khả năng tiếp cận, và đặc biệt là mức độ bền vững của tổ chức.