Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9340201) của nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Cẩm Hà, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Thị Uyên Uyên và Trần Thị Hải Lý, mang tiêu đề: "Kiệt quệ tài chính và các chiến lược tái cấu trúc doanh nghiệp Việt Nam theo chu kỳ sống".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, các doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gia tăng. Do đặc thù nền kinh tế đang phát triển, số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017 cho thấy 98,1% doanh nghiệp Việt Nam có quy mô nhỏ và vừa. Nhóm doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh còn hạn chế, thị trường vốn chưa hoàn thiện, thường xuyên gặp khó khăn về dòng tiền, khả năng thanh khoản và dễ rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính (KQTC).
Khi xảy ra KQTC, doanh nghiệp buộc phải thực hiện các chiến lược tái cấu trúc (TCT) nhằm tránh nguy cơ phá sản và hồi phục hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, các lý thuyết quản trị và tài chính chỉ ra rằng hiệu quả của các quyết định TCT phụ thuộc vào từng giai đoạn trong chu kỳ sống của doanh nghiệp (Khởi sự, Tăng trưởng, Bão hòa, Suy thoái). Luận án xác định các khoảng trống nghiên cứu lớn:
- Trên thế giới, các nghiên cứu kết hợp đồng thời ba khía cạnh KQTC, chu kỳ sống và các chiến lược TCT còn hạn chế (điển hình chỉ có công trình của Koh và cộng sự, 2015 tại thị trường Mỹ nhưng chưa xem xét thương vụ hợp nhất và sáp nhập – M&A như một chiến lược TCT độc lập).
- Tại Việt Nam, các công trình học thuật trước đây tiếp cận các mảng đề tài một cách riêng rẽ: nghiên cứu về KQTC chủ yếu tập trung vào mô hình dự báo hoặc phân tích hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tránh thuế; nghiên cứu về TCT chủ yếu tập trung vào hệ thống ngân hàng thương mại hoặc TCT tài sản đơn lẻ; các phân tích về chu kỳ sống phần lớn dừng lại ở góc độ lý luận mà thiếu bằng chứng thực nghiệm toàn diện trên thị trường chứng khoán.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là phân tích tác động của tình trạng KQTC đến các chiến lược TCT của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các giai đoạn chu kỳ sống, đồng thời đánh giá khả năng hồi phục của các doanh nghiệp KQTC sau khi thực hiện các chiến lược TCT đó.
Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Mục tiêu 1: Đánh giá ảnh hưởng của KQTC đến các chiến lược TCT của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Mục tiêu 2: Phân tích các chiến lược TCT được doanh nghiệp KQTC lựa chọn trong mối liên hệ với từng giai đoạn chu kỳ sống.
- Mục tiêu 3: Kiểm định khả năng hồi phục của các doanh nghiệp KQTC từ việc thực thi các chiến lược TCT.
Tương ứng với các mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- KQTC có tác động đến chiến lược TCT mà công ty Việt Nam sử dụng hay không?
- Các chiến lược TCT được công ty KQTC sử dụng như thế nào trong mối liên hệ với chu kỳ sống doanh nghiệp?
- Các chiến lược TCT có mang lại sự hồi phục cho các công ty KQTC hay không?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tình trạng KQTC, các giai đoạn trong chu kỳ sống của doanh nghiệp, các chiến lược TCT doanh nghiệp và khả năng hồi phục của doanh nghiệp sau KQTC.
- Phạm vi không gian: Các công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), được phân loại theo Hệ thống phân nhóm ngành tiêu chuẩn ICB (Industry Classification Benchmark). Luận án loại trừ các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, quỹ đầu tư và nhóm ngành viễn thông (do cỡ mẫu không đủ), cùng các công ty thiếu hụt dữ liệu kế toán - thị trường quan trọng. Mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm 526 công ty niêm yết.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2005 – 2016, đảm bảo tính đầy đủ và nhất quán của hệ thống dữ liệu báo cáo tài chính và giao dịch chứng khoán phục vụ ước lượng mô hình.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trong và ngoài nước theo từng tuyến chủ đề chính:
Các hướng nghiên cứu về nhận diện và đo lường kiệt quệ tài chính
Các công trình học thuật quốc tế phát triển từ các mô hình phân tích đơn biến sơ khai (Fitzpatrick, 1932; Smith và Winakor, 1935; Merwin, 1942; Beaver, 1966) đến các mô hình phân tích phân biệt đa biến (MDA) với chỉ số Z của Altman (1968, 1977), chỉ số Z-score của Taffler (1983, 1984, 1995); mô hình Logit xác định chỉ số O-score của Ohlson (1980); mô hình Probit với chỉ số của Zmijewski (1984). Bên cạnh đó là hướng tiếp cận dựa trên lý thuyết định giá quyền chọn và cấu trúc vốn với mô hình KMV-Merton của Merton (1974) nhằm đo lường khoảng cách đến điểm vỡ nợ (Distance to Default - DD) và xác suất vỡ nợ (Default Probability - PD) từ dữ liệu thị trường (Chou và cộng sự, 2010; Richardson và cộng sự, 2015).
Nhiều tác giả sử dụng các chỉ tiêu kế toán thực tế như so sánh dòng tiền hoạt động trước lãi vay, thuế và khấu hao (EBITDA) với chi phí lãi vay hoặc lợi nhuận hoạt động âm liên tục để xác định KQTC (Gilbert và cộng sự, 1990; Asquith và cộng sự, 1994; Denis và Denis, 1995; Kang và Shivdasani, 1997; Andrade và Kaplan, 1998; Kam và cộng sự, 2008; Pindado và cộng sự, 2008; Tinoco và Wilson, 2013).
| Tác giả tiêu biểu |
Phạm vi và mẫu nghiên cứu |
Tiêu chí xác định KQTC trong nghiên cứu |
| Gilbert và cộng sự (1990) |
TTCK Mỹ (1974–1983) |
Thu nhập hoạt động âm liên tục trong 3 năm. |
| Asquith và cộng sự (1994) |
102 công ty phát hành trái phiếu rủi ro cao tại Mỹ (1976–1989) |
EBITDA nhỏ hơn chi phí lãi vay trong 2 năm liên tiếp hoặc EBITDA thấp hơn 80% chi phí lãi vay trong 1 năm. |
| Kam và cộng sự (2008) |
100 công ty KQTC tại Trung Quốc |
Tỷ số EBITDA / chi phí lãi vay < 1, hoặc chi phí lãi vay = 0 và EBITDA ≤ 0. |
| Pindado và cộng sự (2008) |
Nhóm nước Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh và Mỹ (1990–2002) |
EBITDA thấp hơn chi phí tài chính liên tục 2 năm và giá trị thị trường sụt giảm 2 năm liên tiếp; hoặc tuyên bố phá sản. |
| Sudarsanam và Lai (2001) |
166 công ty KQTC tại Anh |
Chỉ số Z của Taffler (1995) < 0 trong năm quan sát nhưng > 0 trong 2 năm trước đó. |
| Koh và cộng sự (2015) |
Các công ty niêm yết tại Mỹ |
Kết hợp chỉ số tài chính kế toán và các giai đoạn chu kỳ sống. |
Các nghiên cứu về tái cấu trúc doanh nghiệp và chu kỳ sống
Nghiên cứu về TCT doanh nghiệp chỉ ra nhiều hình thức can thiệp:
- TCT nhân sự quản lý: Thay đổi hội đồng quản trị, ban điều hành hoặc tổng giám đốc (Hofer, 1980; Slatter, 1984; O’Neill, 1986; Gilson, 1989; Jensen, 1989; Denis và Kruse, 2000; Sudarsanam và Lai, 2001; Atanassov và Kim, 2009).
- TCT hoạt động: Cắt giảm chi phí hoạt động, giảm chi tiêu vốn đầu tư, cắt giảm giá vốn hàng bán và cắt giảm lao động (Hambrick và Schecter, 1983; John và cộng sự, 1992; Asquith và cộng sự, 1994; Kang và Shivdasani, 1997; Koh và cộng sự, 2015).
- TCT tài sản: Bán bớt tài sản không cốt lõi, thanh lý tài sản để tạo dòng tiền trả nợ (Hofer, 1980; Asquith và cộng sự, 1994; Sử Đình Thành và cộng sự, 2016).
- TCT nguồn tài trợ: Cắt giảm cổ tức, cơ cấu lại các khoản nợ vay, phát hành cổ phần bổ sung (Bowman và Singh, 1993; Wruck, 1990).
- Chu kỳ sống doanh nghiệp: Lý thuyết phân chia vòng đời doanh nghiệp thành các giai đoạn cơ bản: Khởi sự, Tăng trưởng, Bão hòa, Suy thoái (Penrose, 1952; Mueller, 1972; Miller và Friesen, 1984; Anthony và Ramesh, 1992; Adizes, 2004; Koh và cộng sự, 2015).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Luận án định vị nghiên cứu thông qua việc:
- Kết hợp đồng thời lý thuyết KQTC, lý thuyết chu kỳ sống và các chiến lược TCT doanh nghiệp trên thị trường mới nổi Việt Nam.
- Bổ sung thương vụ M&A như một chiến lược TCT độc lập bên cạnh các chiến lược truyền thống (nhân sự, hoạt động, tài sản, nguồn tài trợ).
- Đánh giá tính vững của kết quả nghiên cứu bằng việc tiếp cận đo lường KQTC qua cả hai kênh: dữ liệu kế toán thực tế (FD_thucte) và dữ liệu thị trường theo mô hình cấu trúc KMV-Merton (FD_KMV Merton).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory): Modigliani và Miller (1963) lập luận việc sử dụng nợ giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp thông qua tấm chắn thuế của lãi vay, nhưng làm tăng nguy cơ KQTC khi dòng tiền hoạt động không đủ bù đắp nghĩa vụ nợ.
- Khái niệm và trạng thái kiệt quệ tài chính: Dựa trên tổng hợp của Wruck (1990), Ross và cộng sự (1999), Altman và Hotchkiss (2006), KQTC được nhìn nhận qua các cấp độ từ thất bại (Failure), mất thanh khoản dựa trên dòng tiền hoặc vốn cổ phần (Insolvency), vỡ nợ kỹ thuật/pháp lý (Default) đến phá sản (Bankruptcy).
- Lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp: Kế thừa khung phân tích của Miller và Friesen (1984), Anthony và Ramesh (1992), Koh và cộng sự (2015), chia vòng đời doanh nghiệp thành 4 giai đoạn dựa trên các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ chi trả cổ tức, mức chi tiêu vốn và tuổi đời doanh nghiệp.
- Lý thuyết tái cấu trúc doanh nghiệp: Dựa trên quan điểm của Hofer (1980), Bowman và Singh (1993), chia các phương án TCT thành: TCT nhân sự quản lý, TCT hoạt động, TCT tài sản, TCT nguồn tài trợ và TCT thông qua thương vụ M&A.
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng với dữ liệu bảng (panel data) cho 526 doanh nghiệp niêm yết trong giai đoạn 2005–2016. Quy trình phân tích thực nghiệm bao gồm:
[Bước 1: Xác định tình trạng KQTC (FD_thucte & FD_KMV Merton)]
[Bước 2: Phân loại 4 giai đoạn chu kỳ sống (Khởi sự, Tăng trưởng, Bão hòa, Suy thoái)]
[Bước 3: Xác định 5 nhóm chiến lược TCT và các phương án thành phần]
[Bước 4: Ước lượng tác động của KQTC và tương tác Chu kỳ sống đến Chiến lược TCT (Mô hình Logit bảng - REM)]
[Bước 5: Kiểm định khả năng hồi phục sau KQTC từ các chiến lược TCT (Mô hình Logit bảng - REM)]
- Mô hình kinh tế lượng: Mô hình hồi quy Logit cho dữ liệu bảng. Luận án tiến hành kiểm định Hausman giữa Mô hình hiệu ứng tác động cố định (FEM) và Mô hình hiệu ứng tác động ngẫu nhiên (REM). Kết quả kiểm định xác nhận mô hình REM là phù hợp nhất.
- Phương pháp ước lượng: Phương pháp hợp lý cực đại (MLE – Maximum Likelihood Estimation).
- Xử lý sai số chuẩn: Ước lượng sai số chuẩn bằng kỹ thuật Bootstrap (Bootstrapped standard errors) nhằm khắc phục các khuyết tật của dữ liệu bảng và bảo đảm tính vững của các hệ số hồi quy.
Hệ thống biến số và nguồn dữ liệu
- Nguồn dữ liệu: Báo cáo tài chính kiểm toán, dữ liệu giá và khối lượng giao dịch cổ phiếu trên HSX và HNX từ năm 2005 đến năm 2016, hệ thống phân loại ngành ICB, dữ liệu thống kê tài chính quốc tế (IFS).
- Biến phụ thuộc mô hình giai đoạn 1 (Lựa chọn chiến lược TCT): Biến nhị phân đại diện cho việc thực hiện các chiến lược: TCT nhân sự quản lý; TCT M&A; TCT hoạt động (cắt giảm đầu tư, cắt giảm giá vốn hàng bán, cắt giảm lao động); TCT tài sản; TCT nguồn tài trợ (cắt giảm cổ tức, sử dụng nợ vay, phát hành thêm vốn cổ phần).
- Biến phụ thuộc mô hình giai đoạn 2 (Khả năng hồi phục): Biến nhị phân nhận giá trị 1 nếu doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng KQTC trong các năm tiếp theo, nhận giá trị 0 nếu không hồi phục.
- Biến độc lập chính: Biến giả KQTC, các biến giả đại diện cho các giai đoạn chu kỳ sống (Khởi sự, Tăng trưởng, Bão hòa, Suy thoái) và các biến tương tác giữa KQTC với các giai đoạn chu kỳ sống.
- Biến kiểm soát: Quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lợi tài sản (ROA), cơ hội tăng trưởng (Market-to-Book ratio), biến động dòng tiền và các biến vĩ mô/ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương mở đầu thiết lập cơ sở khoa học của đề tài. Tác giả phân tích bối cảnh kinh tế Việt Nam với tỷ trọng 98,1% doanh nghiệp vừa và nhỏ, đối diện áp lực cạnh tranh cao khi mở cửa thị trường. Chương 1 nêu rõ 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu trên mẫu 526 công ty niêm yết (2005–2016). Tác giả tóm lược phương pháp nghiên cứu Logit bảng ngẫu nhiên (REM-MLE) kết hợp Bootstrap, tóm tắt kết quả chính và nêu bật 5 chương kết cấu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
Chương 2 trình bày chi tiết các lý thuyết nền tảng:
- Hệ thống hóa các quan điểm về KQTC từ lý thuyết đánh đổi của Modigliani và Miller (1963) đến các phân loại trạng thái khó khăn tài chính của Wruck (1990), Ross và cộng sự (1999), Altman và Hotchkiss (2006).
- Trình bày lịch sử phát triển lý thuyết chu kỳ sống doanh nghiệp qua 4 thời kỳ nghiên cứu từ thập niên 1950 đến nay (Penrose, 1952; Greiner, 1972; Miller và Friesen, 1984; Anthony và Ramesh, 1992; Koh và cộng sự, 2015).
- Phân tích các góc độ TCT doanh nghiệp theo Hofer (1980), Bowman và Singh (1993), Asquith và cộng sự (1994).
- Khảo lược các công trình thực nghiệm về TCT nhân sự, TCT hoạt động, TCT tài sản, TCT nguồn tài trợ, M&A và sự phục hồi của công ty KQTC. Từ đó, xác định khoảng trống nghiên cứu tại thị trường Việt Nam.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Chương 3 xây dựng các giả thuyết nghiên cứu thực nghiệm và thiết lập hệ thống phương trình hồi quy Logit dữ liệu bảng. Tác giả chi tiết hóa:
- Quy trình đo lường KQTC qua biến
FD_thucte (dựa trên dòng tiền/lãi vay/thu nhập) và biến FD_KMV Merton (dựa trên mô hình Merton 1974 tính toán khoảng cách vỡ nợ DD và xác suất PD).
- Quy trình phân chia 4 giai đoạn chu kỳ sống của 526 doanh nghiệp.
- Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu: trình bày cơ cấu ngành theo chuẩn ICB (Bảng 3.4), thống kê mô tả các biến trong mô hình (Bảng 3.5), tỷ lệ các chiến lược TCT theo tiếp cận kế toán (Bảng 3.6) và tiếp cận KMV-Merton (Bảng 3.7), phân bố quan sát KQTC theo từng giai đoạn chu kỳ sống (Bảng 3.8, Hình 3.1 và Hình 3.2). Kết quả mô tả cho thấy KQTC xuất hiện ở tất cả các giai đoạn nhưng tập trung nhiều nhất ở giai đoạn Bão hòa và Suy thoái.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 công bố kết quả ước lượng từ các mô hình hồi quy Logit và kiểm định giả thuyết:
- Tác động của KQTC và chu kỳ sống đến lựa chọn chiến lược TCT:
- TCT nhân sự quản lý (Bảng 4.1): KQTC làm tăng xác suất thay đổi nhân sự quản lý cấp cao.
- TCT từ thương vụ M&A (Bảng 4.2): Doanh nghiệp bão hòa khi gặp KQTC có xu hướng hạn chế tham gia các thỏa thuận M&A.
- TCT hoạt động (Bảng 4.3, 4.4, 4.5): KQTC thúc đẩy cắt giảm hoạt động đầu tư và cắt giảm lao động; tuy nhiên, doanh nghiệp ở giai đoạn khởi sự và tăng trưởng hạn chế sử dụng phương án cắt giảm đầu tư, trong khi doanh nghiệp bão hòa hạn chế cắt giảm lao động.
- TCT tài sản (Bảng 4.6): KQTC thúc đẩy mạnh mẽ quyết định bán và thanh lý tài sản.
- TCT nguồn tài trợ (Bảng 4.7, 4.8, 4.9): KQTC thúc đẩy cắt giảm cổ tức (nhưng doanh nghiệp tăng trưởng ít cắt giảm cổ tức hơn), tăng cường huy động vốn qua nợ vay và phát hành thêm cổ phần (doanh nghiệp bão hòa giảm dùng nợ).
- Tác giả tổng hợp các tác động và tỷ số Odds qua Bảng 4.10 và Bảng 4.11.
- Kiểm định khả năng phục hồi của doanh nghiệp sau KQTC (Bảng 4.12 – 4.24):
- Thống kê tỷ lệ hồi phục sau KQTC theo phương pháp KMV-Merton (Bảng 4.12) và phương pháp thực tế (Bảng 4.13).
- Kết quả kiểm định hồi quy (Bảng 4.14 đến 4.23) khẳng định: các chiến lược TCT nhân sự quản lý, cắt giảm hoạt động đầu tư, TCT tài sản và cắt giảm chi trả cổ tức có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê đối với xác suất phục hồi của doanh nghiệp KQTC.
- Các giai đoạn chu kỳ sống hầu như không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với khả năng hồi phục từ các chiến lược TCT (Bảng 4.23 và Bảng 4.24).
Chương 5: Kết luận và ý kiến đề xuất
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả thực nghiệm tại Chương 4. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp và kiến nghị đối với nhà quản trị tài chính doanh nghiệp niêm yết Việt Nam trong việc chủ động nhận diện dấu hiệu khó khăn tài chính, cân nhắc lựa chọn danh mục chiến lược TCT thích ứng với nguồn lực và giai đoạn phát triển của công ty. Chương này cũng nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và định hướng mở rộng đề tài trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Các phát hiện chính của luận án
- Phân bố KQTC: KQTC có thể xảy ra ở bất kỳ giai đoạn nào trong chu kỳ sống của doanh nghiệp Việt Nam, nhưng tần suất xuất hiện cao nhất ở giai đoạn Bão hòa và Suy thoái.
- Hành vi lựa chọn chiến lược TCT khi xảy ra KQTC:
- Khi rơi vào KQTC, doanh nghiệp Việt Nam gia tăng đáng kể việc thực hiện các chiến lược: thay đổi nhân sự quản lý; TCT hoạt động (cắt giảm chi tiêu đầu tư, sa thải bớt lao động); TCT tài sản (bán tài sản); TCT nguồn tài trợ (cắt giảm hoặc ngừng trả cổ tức để giữ lại dòng tiền nội bộ, tìm kiếm nguồn tài trợ từ nợ và phát hành thêm cổ phần).
- Tương tác với chu kỳ sống:
- Giai đoạn Khởi sự (Birth): Doanh nghiệp KQTC hạn chế sử dụng phương án cắt giảm hoạt động đầu tư.
- Giai đoạn Tăng trưởng (Growth): Doanh nghiệp KQTC hạn chế sử dụng phương án cắt giảm hoạt động đầu tư và ít sử dụng phương án cắt giảm chi trả cổ tức.
- Giai đoạn Bão hòa (Maturity): Doanh nghiệp KQTC hạn chế cắt giảm lao động, giảm sử dụng nguồn tài trợ từ nợ và hạn chế tham gia các thương vụ M&A.
- Hiệu quả phục hồi từ các chiến lược TCT:
- Bốn chiến lược mang lại tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với khả năng hồi phục của doanh nghiệp sau KQTC gồm: (1) TCT nhân sự quản lý, (2) Cắt giảm hoạt động đầu tư, (3) TCT tài sản, và (4) Cắt giảm/hoãn chi trả cổ tức.
- Yếu tố chu kỳ sống không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với khả năng phục hồi của doanh nghiệp khi các chiến lược TCT trên được thực thi.
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Hệ thống hóa khung lý thuyết toàn diện kết hợp giữa lý thuyết kiệt quệ tài chính, lý thuyết chu kỳ sống và lý thuyết tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Bổ sung bằng chứng thực nghiệm quốc tế từ một thị trường mới nổi (Việt Nam) về mối quan hệ giữa chu kỳ sống và các quyết định TCT khi doanh nghiệp gặp KQTC.
- Đưa thương vụ M&A vào mô hình nghiên cứu như một chiến lược TCT độc lập trong mối liên hệ với chu kỳ sống, mở rộng so với nghiên cứu của Koh và cộng sự (2015).
- Áp dụng kết hợp cả hai phương pháp đo lường KQTC: tiếp cận dữ liệu kế toán thực tế và mô hình cấu trúc thị trường KMV-Merton.
Đóng góp thực tiễn và kiến nghị giải pháp
- Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản trị tài chính tại doanh nghiệp Việt Nam nhận diện sớm nguy cơ KQTC và đặc thù giai đoạn vòng đời của công ty.
- Đưa ra định hướng thực tế: khi gặp KQTC, doanh nghiệp cần ưu tiên cải tổ nhân sự điều hành, cơ cấu lại danh mục tài sản, kiểm soát quy mô đầu tư và tiết kiệm nguồn vốn nội bộ thông qua việc giảm chi trả cổ tức để gia tăng xác suất hồi phục thành công.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Dựa trên nội dung công bố của luận án, các điểm hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm:
- Hạn chế về mẫu nghiên cứu: Mẫu thực nghiệm chỉ giới hạn ở các công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn HSX và HNX, chưa bao gồm các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc các doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ (vốn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam).
- Hạn chế về phạm vi ngành: Loại trừ các nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và nhóm ngành viễn thông do đặc thù quy định kế toán hoặc hạn chế về cỡ mẫu.
- Hạn chế về khung thời gian: Dữ liệu nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn 2005–2016; các biến động kinh tế vĩ mô trong giai đoạn sau chưa được phản ánh trong mô hình.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu sang các doanh nghiệp chưa niêm yết (nếu tiếp cận được nguồn dữ liệu tin cậy); cập nhật chuỗi dữ liệu sang các giai đoạn kinh tế mới; xem xét thêm các kỹ thuật phân tích phi tham số nâng cao trong dự báo phục hồi.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh: Có thể tham khảo khung lý thuyết tổng hợp ở Chương 2, quy trình đo lường mô hình cấu trúc KMV-Merton và phương pháp hồi quy Logit bảng ngẫu nhiên xử lý Bootstrap ở Chương 3.
- Nhà quản trị tài chính, Giám đốc điều hành (CEO, CFO) và Hội đồng quản trị doanh nghiệp: Tham khảo kết quả thực nghiệm tại Chương 4 để lựa chọn chiến lược ứng phó phù hợp khi doanh nghiệp đối mặt với áp lực thanh khoản hoặc suy giảm dòng tiền; đặc biệt là việc cân nhắc các quyết định thay đổi quản lý, bán tài sản không hiệu quả và điều chỉnh chính sách cổ tức.
- Các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và nhà đầu tư: Có thêm công cụ và góc nhìn để đánh giá tính khả thi trong phương án phục hồi kinh doanh của khách hàng vay vốn khi doanh nghiệp lập phương án tái cấu trúc nợ theo quy định của Luật Phá sản và pháp luật liên quan.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những tiêu chí nào để đo lường tình trạng kiệt quệ tài chính (KQTC)?
Luận án tiếp cận đo lường KQTC qua hai phương pháp:
- Phương pháp dữ liệu thực tế (FD_thucte): Căn cứ vào các chỉ tiêu kế toán, xác định doanh nghiệp KQTC khi tỷ số EBITDA trên chi phí lãi vay nhỏ hơn 1, hoặc chi phí lãi vay bằng 0 và EBITDA nhỏ hơn hoặc bằng 0 liên tục qua các năm (kế thừa tiêu chí của Asquith và cộng sự, 1994; Kam và cộng sự, 2008).
- Phương pháp dữ liệu thị trường (FD_KMV Merton): Dựa trên mô hình cấu trúc của Merton (1974), tính toán khoảng cách đến điểm vỡ nợ (DD) và xác suất vỡ nợ (PD) từ giá trị thị trường và độ biến động giá trị tài sản doanh nghiệp.
2. Chu kỳ sống của doanh nghiệp trong luận án được chia làm mấy giai đoạn và dựa trên tiêu chí nào?
Kế thừa mô hình của Anthony và Ramesh (1992) cùng Koh và cộng sự (2015), luận án phân chia chu kỳ sống doanh nghiệp thành 4 giai đoạn: (1) Khởi sự (Birth), (2) Tăng trưởng (Growth), (3) Bão hòa (Maturity), và (4) Suy thoái (Decline). Việc phân loại dựa trên 4 đặc trưng tài chính - vận hành của công ty: tốc độ tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ chi trả cổ tức, mức độ chi tiêu vốn (CAPEX) và tuổi đời hoạt động của công ty.
3. Những chiến lược tái cấu trúc nào có tác động tích cực đến khả năng hồi phục của doanh nghiệp KQTC tại Việt Nam?
Kết quả kiểm định thực nghiệm tại Chương 4 chỉ ra 4 chiến lược TCT có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với xác suất phục hồi của doanh nghiệp KQTC:
- TCT nhân sự quản lý (thay đổi thành viên ban điều hành/tổng giám đốc).
- TCT hoạt động thông qua việc cắt giảm các hoạt động đầu tư.
- TCT tài sản (bán, thanh lý tài sản không hiệu quả để thu hồi dòng tiền).
- TCT nguồn tài trợ thông qua việc cắt giảm hoặc tạm hoãn chi trả cổ tức để duy trì nguồn vốn nội bộ.
4. Chu kỳ sống có ảnh hưởng như thế nào đến việc lựa chọn chiến lược TCT của các công ty KQTC?
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:
- Ở giai đoạn Khởi sự: Doanh nghiệp KQTC hạn chế sử dụng phương án cắt giảm đầu tư vì cần xây dựng năng lực sản xuất và chỗ đứng thị trường.
- Ở giai đoạn Tăng trưởng: Doanh nghiệp KQTC hạn chế cắt giảm đầu tư và ít sử dụng phương án cắt giảm cổ tức nhằm bảo vệ vị thế và hình ảnh tăng trưởng trước nhà đầu tư.
- Ở giai đoạn Bão hòa: Doanh nghiệp KQTC hạn chế cắt giảm lao động, giảm việc huy động vốn vay từ nợ và hạn chế sử dụng thỏa thuận M&A.
5. Tại sao luận án lựa chọn mô hình Logit tác động ngẫu nhiên (REM) thay vì tác động cố định (FEM)?
Luận án thực hiện kiểm định Hausman để so sánh giữa mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) trên dữ liệu bảng. Kết quả kiểm định thống kê cho thấy mô hình Logit hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) là phù hợp nhất với cấu trúc dữ liệu của mẫu 526 doanh nghiệp. Đồng thời, luận án áp dụng kỹ thuật ước lượng sai số chuẩn Bootstrap để đảm bảo độ vững và tính tin cậy cho các hệ số hồi quy thu được bằng phương pháp hợp lý cực đại (MLE).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Cẩm Hà đã cung cấp một bức tranh toàn diện và có hệ thống về mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính, các giai đoạn chu kỳ sống và quyết định lựa chọn chiến lược tái cấu trúc của 526 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2005–2016. Bằng phương pháp hồi quy Logit bảng hiệu ứng ngẫu nhiên kết hợp Bootstrap, công trình chứng minh KQTC thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động TCT nhân sự, tài sản, hoạt động và nguồn tài trợ, đồng thời các giai đoạn chu kỳ sống có chi phối đến xu hướng lựa chọn từng phương án TCT cụ thể. Kết quả nghiên cứu xác nhận các chiến lược TCT nhân sự quản lý, cắt giảm đầu tư, bán tài sản và cắt giảm cổ tức là những giải pháp then chốt giúp nâng cao khả năng hồi phục của doanh nghiệp KQTC, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác quản trị tài chính doanh nghiệp tại Việt Nam.