Luận án cấu trúc vốn mục tiêu ở các công ty cổ phần việt nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới

Tài liệu nghiên cứu Luận án cấu trúc vốn mục tiêu ở các công ty cổ phần việt nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

219
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2. Bối cảnh nghiên cứu trong nước và quốc tế

1.3. Tổng quan các nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học

1.4. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

1.4.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.4.2. Câu hỏi nghiên cứu

1.5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Bối cảnh nghiên cứu về cấu trúc vốn của các công ty cổ phần Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế là rất quan trọng. Nền kinh tế toàn cầu đã trải qua nhiều biến động, đặc biệt là từ năm 2007 đến 2009, khi khủng hoảng kinh tế diễn ra. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu giảm mạnh, ảnh hưởng đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tăng trưởng GDP của Việt Nam trong giai đoạn này chỉ đạt 6,12%/năm, thấp hơn so với giai đoạn trước đó. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu về cấu trúc vốn mục tiêu nhằm giúp các doanh nghiệp điều chỉnh chiến lược tài chính của mình.

1.1. Tình hình kinh tế toàn cầu

Tình hình kinh tế thế giới từ năm 2007 đến 2009 cho thấy sự suy giảm nghiêm trọng. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức thấp nhất kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II. Các công ty cổ phần Việt Nam cũng không nằm ngoài vòng xoáy này. Tình trạng thâm hụt cán cân thương mạilạm phát gia tăng đã làm cho môi trường kinh doanh trở nên khó khăn hơn. Các doanh nghiệp cần phải có những chiến lược quản lý vốn hiệu quả để vượt qua giai đoạn khó khăn này.

1.2. Tác động đến doanh nghiệp Việt Nam

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế, nhiều công ty cổ phần Việt Nam đã phải đối mặt với tình trạng giải thểtạm ngừng hoạt động. Từ năm 2011 đến 2015, trung bình mỗi năm có khoảng 63.520 doanh nghiệp giải thể. Nguyên nhân chủ yếu là do cấu trúc vốn chưa phù hợp, dẫn đến rủi ro tài chính cao. Việc nghiên cứu cấu trúc vốn mục tiêu sẽ giúp các doanh nghiệp xác định được ngưỡng vốn mục tiêu và điều chỉnh chiến lược tài chính của mình.

II. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu là xác định cấu trúc vốn mục tiêu cho các công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế và so sánh với thời kỳ phục hồi. Câu hỏi nghiên cứu bao gồm việc xác định mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Nghiên cứu sẽ phân tích sự khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc vốn giữa hai thời kỳ này.

2.1. Mục tiêu tổng quát

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là xây dựng các giải pháp để các công ty cổ phần niêm yết tại Việt Nam đạt được cấu trúc vốn mục tiêu trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Điều này bao gồm việc xác định ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu và các yếu tố tác động đến việc lựa chọn cấu trúc vốn.

2.2. Câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ giải quyết các câu hỏi như: Tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa các biến kinh tế vĩ mô và việc lựa chọn cấu trúc vốn hay không? Các yếu tố kinh tế vi mô nào thực sự tác động đến việc lựa chọn cấu trúc vốn? Sự khác biệt trong việc lựa chọn cấu trúc vốn giữa thời kỳ suy thoái và phục hồi là gì?

III. Phân tích và đánh giá

Phân tích cho thấy rằng trong thời kỳ suy thoái kinh tế, các công ty cổ phần Việt Nam thường sử dụng nợ vượt ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu. Điều này dẫn đến việc giảm hiệu quả hoạt động và gia tăng rủi ro tài chính. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mặc dù trong thời kỳ phục hồi, tình hình tài chính của doanh nghiệp có cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều doanh nghiệp sử dụng nợ trên ngưỡng mục tiêu. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một chiến lược quản lý vốn hiệu quả hơn.

3.1. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao, giúp các công ty cổ phần Việt Nam nhận thức rõ hơn về cấu trúc vốn mục tiêu của mình. Việc xác định ngưỡng cấu trúc vốn mục tiêu sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn vốn, giảm thiểu rủi ro tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh suy thoái kinh tế.

3.2. Đề xuất chính sách

Để đạt được cấu trúc vốn mục tiêu, các doanh nghiệp cần thực hiện các chính sách tài chính linh hoạt, điều chỉnh chiến lược tài chính phù hợp với từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế. Các chính sách này cần tập trung vào việc cải thiện khả năng thanh toán, giảm thiểu chi phí vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn mục tiêu và suy thoái kinh tế. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng cấu trúc vốn và kết quả xác định cấu trúc vốn mục tiêu tại các doanh nghiệp Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách để các doanh nghiệp Việt Nam đạt được cấu trúc vốn mục tiêu trong thời kỳ suy thoái kinh tế thế giới.

17 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN MỤC TIÊU VÀ SUY THOÁI KINH TẾ 2. Cơ sở lý luận về cấu trúc vốn mục tiêu 2. Khái niệm cấu trúc vốn Doanh nghiệp có thể huy động nhiều nguồn vốn khác nhau để tài trợ cho hoạt động kinh doanh: lợi nhuận giữ lại, vốn cổ phần và vay nợ.

CTV của doanh nghiệp cho thấy cách thức, mức độ và cơ cấu tài trợ của doanh nghiệp đó. Tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về CTV. Theo Ross và ctg (2003), Brigham và Houston (2009), CTV của doanh nghiệp hay còn gọi là đòn bẩy tài chính là sự kết hợp giữa việc sử dụng nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Mcguigan và ctg (2006), Brealey và ctg (2008) định nghĩa, CTV là sự kết hợp giữa NNH thường xuyên, NDH, vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp.

Mặt khác, theo Paramasvan và Subramania (2008), CTV là sự kết hợp giữa việc sử dụng NDH và VCSH (bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường). Tại Việt Nam, theo Trần Ngọc Thơ và ctg (2013), CTV là sự kết hợp của NNH thường xuyên, NDH, vốn cổ phần ưu đãi và cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Nguyễn Minh Kiều (2014) cho rằng, CTV là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và VCSH trong TNV của doanh nghiệp tài trợ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các định nghĩa nêu trên cho thấy, có sự khác biệt giữa các quan điểm về CTV.

Tuy nhiên, cần một quan điểm thống nhất về CTV phù hợp với đặc thù các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam. Theo kết quả thống kê từ BCTC của 82 CTCP niêm yết tại Việt Nam, các doanh nghiệp này sử dụng chủ yếu là NNH, chiếm 62,40% 18 trong tổng nợ và chiếm 31,87% tổng tài sản (TTS). Như vậy, đối với các doanh nghiệp Việt Nam, NNH là nguồn vốn chiếm tỷ trọng tương đối cao trong cơ cấu nợ cũng như nguồn vốn kinh doanh. Do đó, khi nghiên cứu về CTV tại các doanh nghiệp Việt Nam, nếu theo quan điểm của Paramasvan và Subramania (2008) CTV là sự kết hợp giữa việc sử dụng NDH và VCSH thì vẫn chưa thể lột tả hết tình trạng sử dụng nợ của doanh nghiệp vì cần đánh giá trên cơ sở tổng nợ, bao gồm NNH và NDH.

Vì vậy, luận án sử dụng khái niệm CTV theo Ross và ctg (2003), Mcguigan và ctg (2006), Brealey và ctg (2008), Brigham và Houston (2009), Nguyễn Minh Kiều (2014) và điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm doanh nghiệp tại Việt Nam. Như vậy, CTV là sự kết hợp giữa VCSH và nợ phải trả (bao gồm NNH và NDH) mà một doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của mình. Các nguồn vốn tài trợ cho một doanh nghiệp được chia thành hai loại, đó là nợ phải trả và VCSH. Cách phân loại này phù hợp với cách phân loại tính chất nguồn vốn của Brealey và ctg (2008).

Nợ phải trả là các khoản tín dụng doanh nghiệp huy động từ các chủ thể trong nền kinh tế và cam kết thanh toán nợ gốc, chi phí sử dụng nợ theo thời gian quy định. Các hình thức biểu hiện của nợ phải trả là vốn vay, mượn từ bên ngoài hoặc thông qua việc phát hành chứng khoán nợ. Căn cứ theo thời gian, nợ phải trả bao gồm NNH và NDH (Bộ Tài chính, 2006). NNH là các khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong vòng một năm, áp lực trả nợ cao.

Tuy nhiên, đây là nguồn vốn có chi phí thấp và thường được sử dụng để tài trợ cho các tài sản ngắn hạn (TSNH). NNH bao gồm các khoản vay ngắn hạn, các khoản phải trả thương mại và phải trả ngắn hạn khác. NDH là những khoản nợ mà doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán trong thời gian lớn hơn một năm hoặc hơn một chu kỳ kinh doanh, tính ổn định của nguồn vốn tương đối cao. Tuy nhiên NDH, chi phí lớn và thường được sử dụng để tài trợ cho TSDH hoặc một phần TSNH.

NDH bao gồm vay NDH, các khoản phải trả thương mại dài hạn và phải trả dài hạn khác. 19 Đối với doanh nghiệp, một trong những ưu điểm của việc tài trợ bằng nợ phải trả (nợ phát sinh chi phí lãi) là chi phí lãi vay tạo ra lợi ích từ tấm chắn thuế cho doanh nghiệp. Ngoài ra, việc sử dụng nợ giúp nhà quản trị thận trọng hơn trong việc đầu tư, tránh đầu tư vào những dự án không hiệu quả. Ngược lại, nhược điểm của việc tăng tỷ trọng nợ là doanh nghiệp chịu sự giám sát, quản lý tăng cường của các nhà đầu tư, chủ thể cho vay và thị trường.

Doanh nghiệp mất dần tính tự chủ về tài chính cũng như điều hành. Mặt khác, áp lực trả nợ có thể dẫn đến kiệt quệ tài chính và mất thanh khoản. VCSH là nguồn vốn do chủ sở hữu góp vào doanh nghiệp và doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, nhưng họ kỳ vọng mang lại lợi ích từ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. VCSH bao gồm phần sở hữu của cổ đông thiểu số, vốn góp, các khoản dự trữ và lợi nhuận chưa phân phối (Bộ Tài chính, 2006).

Đối với doanh nghiệp, việc tài trợ bằng VCSH có tính ổn định và tự chủ cao. Vì vậy, sẽ giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro hơn so với việc tài trợ bằng nợ vay. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều nguồn vốn này làm tăng chi phí sử dụng vốn do không được hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế. Mặt khác, khi giá trị VCSH tăng đồng nghĩa với số lượng cổ đông nhiều, áp lực về sự quản lý điều hành, giám sát hoạt động của doanh nghiệp càng lớn.

Ngoài ra, nguồn vốn còn được tiếp cận theo thời hạn hoàn trả, bao gồm NVNH và NVDH. Sự khác biệt giữa NVNH và NVDH được trình bày trong Bảng 2. So sánh vốn ngắn hạn và vốn dài hạn Tiêu chí Nợ ngắn hạn Nợ dài hạn và VCSH 1. Thời hạn hoàn trả Trong vòng 1 năm, hoặc Trên 1 năm, hoặc trên 1 chu 1 chu kỳ kinh doanh kỳ kinh doanh , hoặc không phải hoàn trả 2.

Đối tượng tài trợ TSNH TSDH và TSNH 3. Chi phí sử dụng vốn Thấp Cao 4. Tính ổn định Thấp Cao 5. Tính linh hoạt Cao Thấp Nguồn: Ross và ctg (2003);Bùi Hữu Phước (2011).

20 Như vậy, mỗi nguồn vốn đều có những ưu điểm và khuyết điểm. Nếu các nhà quản trị có thể nhận thức tốt những vấn đề này và chú trọng đến những đặc điểm của từng giai đoạn phát triển kinh tế thì sẽ lựa chọn được nguồn vốn phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cấu trúc vốn mục tiêu Để nghiên cứu CTV mục tiêu thì trước hết cần tiếp cận khái niệm CTV tối ưu, bởi lẽ hai thuật ngữ này có mối liên hệ nhất định. CTV tối ưu lần đầu tiên được đề cập trong Lý thuyết truyền thống về CTV tối ưu (Optiomal Capital Structure).

Theo lý thuyết này, luôn tồn tại một CTV tối ưu cho phép tối đa hóa giá trị doanh nghiệp bằng cách kết hợp giữa nợ và VCSH theo một tỷ lệ nhất định giúp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân (Durand, 1952; Ross và ctg, 2003; Paramasvan và Subramania, 2008). Mặc dù, quan điểm này được phát biểu dựa trên một số giả định không tồn tại trong thực thế nhưng vẫn nhận được sự ủng hộ của các tác giả như Solomon và Weston. Quan điểm về CTV tối ưu cũng được đề cập trong Lý thuyết TOT tĩnh. Theo Kraus và Litzenberger (1973), Jensen và Meckling (1976), Jensen (1986), trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt được CTV tối ưu mà tại đó, diễn ra một sự đánh đổi giữa lợi ích về thuế của nợ vay và chi phí kiệt quệ tài chính (lợi ích cận biên cân bằng với chi phí cận biên).

Ngoài ra, theo quan điểm này, trong suốt thời gian hoạt động, doanh nghiệp chỉ có một CTV tối ưu duy nhất. Tuy nhiên, trong thực tế không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có khả năng xác định được tất cả các khoản chi phí, đặc biệt chi phí kiệt quệ tài chính. Chỉ có những loại chi phí kiệt quệ tài chính trực tiếp liên quan đến quá trình phá sản như chi phí luật sư, chi phí pháp lý mới có thể quan sát và xác định được. Còn các loại chi phí kiệt quệ tài chính gián tiếp khác như chi phí do mất cơ hội đầu tư (mất khách hàng, mất nhà cung cấp, mất nhân viên giỏi, mất thời gian.) rất khó quan sát và xác định cụ thể.

21 Mặt khác, CTV chịu sự ảnh hưởng bởi các biến động của yếu tố vi mô cũng như vĩ mô, khi các biến này thay đổi có thể tác động đến hoạt động, sản xuất, kinh doanh và giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Do đó, việc xác định CTV tối ưu cho một giai đoạn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp (điều này được giải thích chi tiết Mục 2. Vì vậy, các doanh nghiệp thường xác định một con số hoặc khoảng CTV mục tiêu và xem như đây là CTV tối ưu mà doanh nghiệp cần phải thiết lập nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp (Brigham và Houston, 2009). Vì vậy, theo Brigham và Houston (2009), CTV mục tiêu là việc kết hợp giữa nợ vay, vốn cổ phần ưu đãi và cổ phần phổ thông mà doanh nghiệp có kế hoạch để huy động khi cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng giá trị doanh nghiệp.

Luận án cũng ủng hộ quan điểm cho rằng, xác định CTV tối ưu là vấn đề không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh bất ổn khi nền kinh tế đang phục hồi chưa bền vững, môi trường kinh tế vĩ mô còn biến động nhiều. Do đó, trong phạm vi của luận án, tác giả tập trung xác định CTV mục tiêu cho các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, luận án chia sẻ quan điểm về CTV mục tiêu của Brigham và Houston (2009).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu cấu trúc vốn mục tiêu ở các công ty cổ phần Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu" của tác giả Nguyễn Ngọc Thạch và Lý Hoàng Ánh, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân vào năm 2016, tập trung vào việc phân tích cấu trúc vốn của các công ty cổ phần Việt Nam trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các công ty điều chỉnh cấu trúc vốn của mình để thích ứng với những biến động kinh tế, từ đó giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về các chiến lược tài chính hiệu quả trong thời kỳ khó khăn.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý tài chính và cấu trúc vốn, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu vốn đến hiệu quả kinh doanh của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, Hoàn thiện quản lý tài chính tại Bệnh viện Mắt tỉnh Phú Thọ cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn về quản lý tài chính trong một lĩnh vực cụ thể. Cuối cùng, Nghiên cứu ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến cấu trúc vốn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của thanh khoản đến cấu trúc vốn, một yếu tố quan trọng trong quản lý tài chính.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức của bạn về cấu trúc vốn mà còn cung cấp các góc nhìn đa dạng về quản lý tài chính trong các lĩnh vực khác nhau.