CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN PHÁP LUAT VE DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1.1 Khái quát chung về doanh nghiệp tư nhân 1.1 Khai niệm doanh nghiệp tw nhân Trong sự nghiệp đôi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cùng với su phát triển của nền kinh tế thị trường thì việc xây dựng và hoàn thiện một hành lang pháp lý đầy đủ ở Việt Nam là điều vô cùng quan trọng. Tại Việt Nam, sự hình thành, tồn tại và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) trong đó có DNTN mới được pháp luật chính thức pháp điển hóa trong Luật DNTN và Luật Công ty được quốc hội khóa VIII thông qua vào năm 1990. Trong Luật DNTN 1990 quy định thì DNTN được nêu lên khái quát là một đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, thứ hai thì DNTN chỉ do duy nhất một cá nhân làm chủ đồng thời cá nhân đó tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của DNTN. Tại Việt Nam thì cho đến khoảng thời gian trước năm 1990 thì loại hình DNTN chưa được ghi nhận trong một văn bản pháp luật chính thức nào.
Hay nói cách khác, hệ thống pháp luật Việt Nam vẫn chưa chính thức công nhận sự tồn tại của loại hình DNTN trước khi luật DNTN năm 1990 được ban hành. Mặc dù trong lịch sử của nên kinh tế thế giới thì có thê coi hình thức kinh doanh của DNTN là xuất hiện sớm nhất, trước Kê từ khi được ghi nhận trong luật, cụm từ “DNTN” đã được sử dung là một thuật ngữ khoa và thuật ngữ này và ngày càng được sử dụng phổ biến. Đồng thời, Luật DNTN 1990 cũng đã định hình nên khái niệm cụ thể về DNTN trong các bộ LDN sau này. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay khi nhắc đến “DNTN” sẽ có hai cách hiểu với lớp nghĩa khác nhau và được sử dụng trên báo, đài hay các phương tiện truyền thông một cách phố biến.
Dé hiểu rõ hơn vẫn về nội hàm của khái niệm này thì hiện nay có hai cách hiểu về thuật ngữ “DNTN”. Đầu tiên, thuật ngữ “DNTN” được dùng để chỉ các (hoặc một) doanh nghiệp “là thành phần KTTN”. Hiểu một cách đơn giản về thuật ngữ DNTN theo lớp nghĩa này thì nội hàm của khái nệm là “DNTN” là một loại hình doanh nghiệp không có vốn của nhà nước. Ngoại diên của khái niệm này là DNTN ở đây sẽ được bao gồm tất cả các loại hình doanh nghiệp khác là công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu han (TNHH) và cả công ty cô phan.
Với cách sử dụng ở đây thì thuật ngữ “DNTN” được dùng đề phân biệt với “DNNN” - doanh nghiệp thuộc thành phần là kinh tế nhà nước. “Như vậy khi nói tới DNTN có nghĩa là nói tới cả thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân (bao gồm các loại hình công ty hợp danh, công ty cô phần, công ty TNHH.) mà không bị pháp luật coi là doanh nghiệp nhà nước” [3, tr 25]. Hiểu theo nghĩa này thì nó phân biệt về chủ sở hữu của doanh nghiệp một bên là tư nhân và một bên là nhà nước. Và như vậy đồng nghĩa với cách hiểu này sẽ là các thuật ngữ: “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp ngoài nhà nước; doanh nghiệp dân doanh”.
Một số đơn vị, báo chí, trang tin và cả người dân hiện nay vẫn đang thường xuyên sử dụng thuật ngữ này trong các bài viết của mình và trong giao tiếp đời sống hàng ngày. Việc sử dụng thuật ngữ “DNTN” như trên có thé là một cách gọi van tắt của “Doanh nghiệp thuộc thành phần KTTN”. Tuy nhiên, chúng ta nên sử dụng các thuật ngữ: “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh; doanh nghiệp ngoài nhà nước; doanh nghiệp dân doanh” đề diễn tả ý nghĩa trên sẽ phù hợp hợp. Điều này giúp người nghe, người đọc sẽ không hiểu nhằm về nội hàm của khái niệm “DNTN”.
Thứ hai, thuật ngữ “DNTN” được hiểu là một loại hình doanh nghiệp trong các loại hình doanh nghiệp mà pháp luật quy định. Theo nội hàm của khái niệm này thì ở đây DNTN chỉ là một loại hình doanh nghiệp và nó thuộc thành phần KTTN. Đề có thé hiểu được một cách cụ thé hơn khái niệm của DNTN, chúng ta cần xuất phát điểm ban đầu từ khái niệm về doanh nghiệp. Theo khoản 10 Điều 4 LDN 2020 quy định “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng kí thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích đích kinh doanh”.
Như vậy, về mặt pháp lý DNTN có tư cách của một doanh nghiệp, hoàn toàn có quyền thực hiện các hoạt động kinh doanh với tư cách của doanh nghiệp, đó là tìm kiếm lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh do doanh nghiệp thực hiện. Đây cũng là quan điểm của một số tác giả khác. “DNTN là đơn vị kinh doanh dưới hình thức một tổ chức, trong đó có người quan lý điều hành, có người lao động làm công,. Chính vì vậy, DNTN vẫn thỏa mãn dấu hiệu cơ bản đầu tiên của doanh nghiệp nói chung là một tô chức” [20, tr 101].
Đồng thời thì bản thân DNTN cũng có những đặc điểm rất riêng của minh dé có thê phân biệt DNTN với những mô hình doanh nghiệp khác ở Việt Nam. Theo quy định tại điều 2 của Luật DNTN 1990 đã đưa ra những đặc điểm này: / nhất DNTN là một đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, thir hai DNTN do một cá nhân làm chủ và thir ba thì chủ của DNTN sẽ phải tự chịu trách nhiệm bang toàn bộ tài sản của minh về mọi hoạt động của doanh nghiệp”; tiếp đó là đến khái niệm DNTN được quy định tại điều 99 trong LDN năm 1999 nêu lên “DNTN là doanh nghiệp do một ca nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn Độ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Sau đó là các quy định của LDN năm 2005, LDN năm 2014 và gần đây là LDN năm 2020 thì DNTN đều được quy định một cách rat rõ rang và quy định đây là một trong những hình thức doanh nghiệp về tổ chức kinh doanh ma cá nhân muốn đầu tư có thé lựa chọn. Với quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005 về DNTN thì thứ nhất DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và thứ hai là cá nhân này hay chính là chủ của DNTN tự chịu trách nhiệm băng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Khái niệm theo quy định của LDN năm 2005 này cũng đã diễn tả khá đầy đủ và tương đối ngắn gọn. Dựa vào khái niệm này có thê giúp chúng ta phân biệt mô hinh DNTN với các loại hình doanh nghiệp khác theo quy định của hệ thống pháp luật thời điểm đó. Nội dung được nêu lên trong khái niệm này cũng chính là những đặc điểm quan trọng và nổi bật nhất của DNTN, đó là “loại hình doanh nghiệp”, “chủ sở hữu doanh nghiệp” và “trách nhiệm doanh nghiệp”. Về co bản thì một doanh nghiệp thoả mãn 3 điều kiện sau của LDN 2005 sẽ được gọi là DNTN: /hứ nhất DNTN do một cá nhân làm chủ và cá nhân đó hay chính là chủ DNTN phải tự mình chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tải sản của mình về mọi hoạt động của DNTN đó; /hứ 10 hai DNTN không có quyền được phát hành bat kỳ loại chứng khoán nào; / hai mỗi cá nhân chỉ có quyền được thành lập duy nhất một DNTN.
Đến các quy định theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 ( điều 183) và quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 (điều 188) lại một lần nữa tiếp tục vẫn đưa ra quy định về khái niệm DNTN cơ bản giống như của Luật Doanh nghiệp năm 2005. Vẫn quy định: “DNTN là doanh nghiệp do một ca nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”. Như vậy có thê thấy, mặc dù trải qua sự phát triển và thay đôi của ba đạo luật là LDN 2005, LDN 2014 và LDN 2020 nhưng quy định nêu lên khái niệm về DNTN vẫn được giữ nguyên. Điều này cho thấy sự ghi nhận một cách nhất quán và đầy đủ của các nhà làm luật Việt Nam xuyên suốt qua các giai đoạn về khái niệm DNTN.
Khi nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn về thuật ngữ “DNTN” thì tác giả cũng nhận thay “bán thân thuật ngữ “DNTN” (private enterprise) thì không được sử dụng trong thông lệ của pháp luật quốc tế Các nước trên thế giới thường hay sử dụng thuật ngữ “sole proprietorship” hoặc “sole trader” (doanh nghiệp cá nhân, cá nhân kinh doanh) dé chỉ loại hình kinh doanh này. Doanh nghiệp ca nhân (sole proprietorship) còn được goi là doanh nghiệp một chủ là một dạng thỏa thuận kinh doanh đơn giản, trong đó, một cá nhân quan ly, điều hành và sở hữu toàn bộ doanh nghiệp ”[18, tr 64]. Bên cạnh đó cũng có nhận định thể nói “DNTN là một mô hình kinh doanh đơn giản nhất và thông dụng nhất trên thế giới. DNTN trong luật Việt Nam không có gì khác với sole trader / sole tradership / sole proprietorship ở Anh - Mỹ - Úc, entreprise individuelle ở Pháp, hay einzelunternehmen ở Đức.
Pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam quy định về DNTN được tương tự như Doanh nghiệp cá nhân (Sole Proprietorship) ở các nước khác” [2, tr 68]. DNTN “còn được gọi là doanh nghiệp một chủ là một dạng thỏa thuận kinh doanh đơn giản” [ 18, tr 64]. Như vậy khái niệm DNTN ở đây cho thấy DNTN chỉ là một mô hình doanh nghiệp trong nhiều mô hình doanh nghiệp khác và đều nằm trong KTTN. Qua những phân tích và dẫn chứng của tác giả ở trên, về cơ bản khái niệm DNTN có thê hiểu được một cách đầy đủ và chính xác được thừa nhận và quy định I1 trong pháp luật Việt Nam là: DNTN là doanh nghiệp do một ca nhân lam chu và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (điều 188, LDN 2020).
Trong thực tế hiện nay, tên gọi DNTN vẫn đang có những tranh luận về việc nó chưa phản ánh một cách chính xác nhất, đúng đắn nhất về bản chất pháp lý của loại hình doanh nghiệp đặc thù này. Theo quan điểm của một số học giả thì nghĩa thứ hai này là chưa thực sự chính xác về ngữ nghĩa hơn nữa nếu dich cụ thé hai khái nệm “doanh nghiệp” và “tư nhân” sẽ chưa phản ánh đúng nội hàm của khái niệm về loại hình doanh nghiệp này.